Khó tu, tu khó?

Tháng Một 12, 2010 bởi NÓI THẬT

Tôi về làng, vào chùa làng thắp hương tam bảo. Chùa làng dễ hơn 150 năm tuổi, cây đa đã chết đi sống lại đến cả chục lần, cụ cố bên họ ngoại đã 97 tuổi, nhớ từ giờ sinh của thằng chắt nhớ đi, bảo cây đa này là cháu chắt chút chít của cụ đa nào đó mang về từ Thái Nguyên.

Năm kia, cũng về qua làng, vào chùa thắp hương. Sau lưng chùa là một cái sân gạch, cạnh là cái ao chùa. Sư bà coi chùa hồi ấy, gọi là bà nhưng chừng bốn mấy, đi thanh niên xung phong về, chồng bỏ, bèn xuống tóc vào chùa. Thắp hương cúng dường Đức Phật xong, đi ra sân vườn sau vãn cảnh, thấy sư bà lôi xềnh xệch con chó xích vào gốc cây, xích xong, đập vào mõm chó đánh chát một cái, mắng “Cha tiên nhân chó với má, tinh ăn vụng”. Đánh chó xong, sư cắp một cái rổ to đi xuống ao, mở cái vỉ tre đậy rổ, móc ra một con cá trắm to dễ gần 2 cân còn giãy đành đạch. Sư lấy cái chày sứt sẹo cạnh cầu ao, nện đánh bốp một cái vào đầu con cá. Công lực thâm hậu, chưởng xuất đúng tử huyệt, con cá giãy bật lên một cái rồi duỗi mình nằm thẳng cẳng (quên, thẳng vây). Xong, hóa kiếp cho mày sau đừng làm cá, mà có làm cá cũng đừng gặp sư bà.

Chứng kiến cảnh ấy, tôi đứng nhìn tấm lưng cánh phản của sư bà và đôi bàn tay đang móc mang, mổ ruột, chặt vây ngoay ngoáy, rón rén đi vòng phía khác, té thẳng. Lạy Phật, Phật từ bi vô lượng, còn sót một chút đường tu hoang dã ở kia, xin Phật độ trì cứu giúp cho dân làng được nhờ. Kiểu ấy mà lo phần giáo hóa cho dân làng thì Phật pháp chắc thành kiếm ma chưởng thuật mất thôi.

Năm nay, sư bà sát cá đi đâu mất, làng lại thỉnh về một sư bà khác, lông mày vẫn còn đường tỉa, răng khểnh duyên đáo để. Bí thư chi bộ làng, tên là Đắc, bảo “Mới gọi lên nhắc nhở, tối cứ mở cải lương nghe, mấy vãi trong làng nói ra nói vào”. Đắc Bí thư nói chưa xong, sư đã cãi xong rồi, bảo đấy là mấy băng nam mô a di đà đời mới làm, cải lương đâu mà cải lương, bịa tội cho người xuất gia, Phật giáng quả oán cho mà gánh tội. Chao ôi, cái cô Lan nào lại vào nhầm chùa thay chú Điệp đây?

Tôi nhớ có năm đọc báo cáo của Ban Tăng sự trung ương, báo kết quả năm vừa rồi có đến mấy chục vị tăng trẻ thuê nhà trọ ở lung tung, dẫn cả “người lạ” vào ở cùng, làm mất thể diện Giáo hội. Lại nhớ có lần đọc tin pháp luật – xã hội trên vnexpress, nói một ni và một tăng bị đánh cướp mất cái xe máy, địa điểm bị cướp xe là một bãi đất hoang bên quận 9, lúc 7-8 h tối. Khổ, tối tăm mù mịt thế, ra bãi đất hoang làm chi cho tội tình, cò ơi là cò. Rồi sư ông trụ trì chùa Quang Minh kể chuyện một sư chú khác vào An Giang tu theo phái khất sĩ, đi được 2 tháng thì quay về vàng võ, nói vất vả quá, lúc nào cũng đói, thôi về lại chùa cũ.

Thế nên, các bậc cao tăng mấy năm nay lo cho việc trang nghiêm Giáo hội là nhiều. Phần lễ lạt át mất cả phần tu tập, nhiều nơi sư trụ trì chỉ giỏi mỗi việc đi cúng ở các nhà, thành thử nhiều bà khi nhắc đến sư nọ sư kia, chỉ ngưỡng mộ mỗi cái giọng ngân nga và cái tay múa dẻo.

Trong tiếng mõ lời kinh có những giá trị tinh thần to lớn mà chỉ sự tu tập nghiêm cẩn mới tiếp nhận được. Chưa nói đến trong thánh điển Kinh Phật, những tri thức vô giá chỉ có thể được ngộ khi người tu nghiên tầm ngày qua ngày bền bỉ, bằng sự buông mình trọn vẹn vào một cõi không có tham, sân, si, không có danh vọng và tự ngã. Trong quá trình tích lũy và chọn lọc tri thức, người tu phải vượt qua bao nhiêu xáo trộn và chi phối, chỉ có hàng rào giới luật mới giúp thất tình không chen ngang, hủy hoại huệ mạng. Tôi ngờ rằng Giáo hội phải có một cuộc chấn hưng riêng cho việc hành trì giới luật bên cạnh việc cải tổ quản trị các cơ sở tự viện cho chặt chẽ. Đông mà không nghiêm, ấy là nền móng cái tòa nhà đã có nhiều dấu rạn.

KHÔ HẠN BÁT NHÃ

Tháng Một 1, 2010 bởi NÓI THẬT

Hai tuần trước, một sư ông nói với tôi “Bát Nhã tắc tị rồi”.

Nay thì những giọt nước của Làng Mai đã bốc hơi, không rõ có giọt nào về được biển cả Pháp quốc cùng sư ông Nhất Hạnh hay không. 39 vị anh hùng cuối cùng đã ra đi, không một lời để lại với ngay cả người đã cưu mang họ suốt 2 tháng qua, vị trụ trì chùa Phước Huệ.

Bác Trần Chung Ngọc có khuyên sư bà Chân Không diện bích tịnh khẩu, nói bớt đi, vì càng nói càng sai. Nay có khi bác nên có lời khuyên tương tự với sư ông Nhất Hạnh, bởi ngài càng nói càng thấy tâm ngài sân si. Ngài dụng công (lẽ ra dành cho tu tập) để viết một bức thư dài dằng dặc, gần 6700 chữ, để nói, để cay ca, để chê bai và thậm chí toan tính kéo sang cả chuyện Tây Tạng cho vấn đề thêm phần “long trọng thể”.

Mô Phật, giấc mộng làm quốc sư quá sớm của sư ông vậy là không thành. Công tội của giáo quyền và chính quyền ra sao trong vụ này, rồi người dân sẽ luận. Tăng thân làng Mai tứ tán phương nao, xin hãy nghĩ đến Phật pháp mà hành trì cho nghiêm cẩn và bền bỉ. Nếu là một dòng sông được, thì giọt nước nào cũng sẽ có cơ hội để quay về. Bằng không, cứ để cho Bát Nhã khô hạn, cỏ cây khô héo thành đất mùn cho lớp cây khác mọc lên. Toan tính thêm chi cho đau lòng Tam bảo.

Cung kính tiễn sư ông.

SEAGAMES TẬP KIỀU

Tháng Mười Hai 18, 2009 bởi NÓI THẬT

(NGHÌN LẠY CỤ TIÊN ĐIỀN)

Ngày đông con én đưa thoi,
Bảng vàng điểm mặt đã ngoài bảy mươi
Toàn Việt Nam khoái chí cười,
Phen này ta đá cho người tỉnh ra
(Diễn ra ngay cạnh nước ta,
Lễ là chung kết, hội là Sea-Games…)

Việt Nam nô nức đi xem,
Tràn sang bạn, để quyết đem vàng về
Phen này thực hóa giấc mê

Năm thập kỷ, chả lẽ về tay không?
Đầu tư lắm, hâm mộ đông
Đá đã khá, lại thêm ông thầy Bồ
Nữ nhi họ đã cầm cờ
Nam nhi chẳng lẽ huống hồ trắng tay

Báo chí tâng bốc tận mây
Kỹ thuật khéo, chiến thuật hay thế này…
Bạc thì chẳng khác trắng tay
Bạc thì đặt vé về ngay chẳng thà…

Dàn binh bố trận kéo ra
Chín mươi phút, quyết không tha phen này
Đá cho dân Mã trắng tay
Đá cho dân Thái đắng cay ngậm ngùi…

Hỡi ơi người chửa kịp vui
Liễu tan nát liễu, hoa vùi dập hoa
Một lần nữa, bóng đá nhà
Bao mộng đẹp, lại thành là viển vông…

Hỡi ôi việc chửa thành công
Mà nay nước mắt trắng đồng Ai-lao
Khí thiêng không tụ ở Lào
Vượng địa không phải Ai-lao xứ này

Thêm một lần lại trắng tay
Thêm một dịp lại đắng cay ra về
Cúi đầu theo ngọn tiểu khê
Biết đâu phong cảnh tứ bề xanh xanh
Nao nao nước mắt uốn quanh
Hỡi ơi bệnh cũ bỗng thành vô phương…

Có người Thái ở viễn phương
Thua đau lắm, vẫn tìm đường hỏi xem
Rằng: Sao chung kết Seagames,
Mà đây cờ quạt vắng tanh thế à?
Chẳng thấy ai hát quốc ca?
Chẳng ai xuống phố cùng là hò reo?

Mộng tan đường phố vắng teo
Củi trăm năm, bỗng đốt vèo phút giây
Trăm năm ta lại là đây
Ngồi xem sỏi đá, mơ ngày thành cơm
Trăm năm lần dở cảo thơm
Vê-Ép-Ép vẫn ngồi ôm mộng vàng
Cúp kia để lại bên đàng
Bẽ bàng về lại góc làng chân đê

Ra đi rồi lại quay về
Quả thơm tưởng đã cận kề hóa cao…

Vài mươi năm nữa xem sao
Thiên hạ mới biết thế nào là ta
Trải bao thỏ lặn ác tà,
Nghiệp dư bóng đá vẫn là chúng ông!

Phũ phàng chi bấy hoá công,
Ngày xanh mòn mỏi máu hồng phôi pha?
Thôi thì ta lại bảo ta
Mua vui cũng được một và trống canh!

Hậu Seagames 2009.

(Tác giả P.A.M, bản quyền NÓI THẬT giữ)

TRI KỶ

Tháng Mười Hai 14, 2009 bởi NÓI THẬT

Báo chí bàn luận suốt tuần về chuyến thăm Vatican của bác Chủ tịch. Tin đưa thì vô thưởng vô phạt, kể cả thông cáo báo chí chính thức của Vatican. Thôi thì hồi sau sẽ luận.

Nhân xem bức ảnh cụ Chủ tịch bắt tay cụ Pope, chả hiểu sao lại thấy hai cụ này lẽ ra phải là tri kỷ, nếu khoảng cách địa lý không quá xa.

Tri kỷ trước hết ở vụ phát ngôn.

Thôi thì cũng không cần nhắc lại vụ canh giữ hòa bình, trời đất sinh ra, thức ngủ ngủ thức mới đây nữa. Ở nhà ta, bà con chả lên You Tube xem đến nhão cả băng ra rồi.

Chỉ nhắc lại một vụ cách đây lâu lâu rồi của cụ Pope, về cái bao cao su.

Trên Talawas.org và trên sachhiem.net đều có đăng lại bài viết của Lê Diễn Đức, lượm về đây vì thấy viết rất chi tiết, đầy đủ.

Bao Cao Su và Giáo Hoàng Benedict XVI

(nguồn http://www.talawas.org/?p=1829)
Lê Diễn Đức, 02 tháng 4, 2009

LTS: Tuy câu chuyện có vẻ sôi nổi, nhưng thói quen “nói không chứng cớ” và “vô trách nhiệm” vẫn từ lâu là bản chất cố hữu của các giáo hoàng ở điện Vatican. Chúng tôi ghi lại phần “tin tức” của Lê Diễn Đức trong bài “Bao Cao Su và Giáo Hoàng Benedict XVI” đăng trong tạp chí điện tử Talawas ngày 02 tháng 4, 2009. ________________________________________

Đưa ra công luận về hiện tượng tiêu cực nào đó của Giáo Hội hoặc đụng chạm đến đề tài tôn giáo nói chung là điều nhạy cảm, thường được toan tính thận trọng và dè dặt ở mỗi quốc gia.
Huống chi, tôi sống tại Ba Lan, nơi có đến hơn 90% dân số công giáo ngoan đạo, còn các ngày lễ của Nhà Thờ cũng là ngày lễ chính thức của nhà nước.

Vậy mà câu chuyện về Giáo Hoàng Benedict XVI và bao cao su, vật cản mà có người hài hước ví von rằng, nó bắt đàn ông phải liếm đường qua túi nylon, vẫn đang nóng!

Từ sau giữa tháng 3/2009 đến nay báo chí thế giới đưa tin không ít về chuyện này và cộng đồng mạng tung hứng sôi động.

Nhưng không chỉ có cộng đồng mạng!
Ở Ba Lan, có lẽ vì bối cảnh tế nhị đã nêu, các cơ quan truyền thông, kể cả hãng thông tấn quốc gia PAP đều loan tin liên hệ, nhưng hầu hết dẫn nguồn từ nước ngoài như CNN, New York Times, Daily Telegraph, La Republica, …

Sự việc xuất phát từ chuyến công du Lục địa Đen của Giáo Hoàng Benedict XVI, khởi hành từ Vatican, Roma vào ngày 17 tháng 3 vừa rồi.
Trên khoang máy bay, Giáo Hoàng nói với các nhà báo như sau về dịch bệnh AIDS: “Đây là bi kịch mà bạn không thể ngăn chặn chỉ bằng tiền bạc, bằng việc phân phát bao cao su, bởi vì chúng chỉ làm tăng thêm các vấn đề”. [1]

New York Times (NYT) ngay lập tức lên tiếng phê phán Giáo Hoàng. NYT nhắc lại kết quả nghiên cứu khoa học chứng minh rằng, bao cao su ngăn ngừa truyền nhiễm AIDS với hiệu quả 80%.
“Giáo hoàng có toàn quyền nói lên sự chống đối sử dụng bao cao su dựa trên nền tảng đạo đức theo quan điểm của Giáo hội công giáo. Nhưng không thể dùng đức tin khi bóp méo sự việc về giá trị của chúng trong việc ngăn chặn dịch bệnh AIDS”.

“Giáo Hoàng đã sai lầm. Chưa hề có chứng minh nào nói sử dụng bao cao su làm tăng mức độ dịch bệnh, ngược lại có không ít chứng minh rằng, bao cao su, dù không là thuốc bách bệnh, có hiệu quả trong rất nhiều hoàn cảnh”. [2]

Phát biểu của Giáo Hoàng đã gây nên sự phản đối mạnh mẽ trong giới chính khách cấp tiến và cánh tả tại nhiều nước Tây Âu. Dưới áp lực của đảng Xanh, các đảng viên cấp tiến và xã hội, quốc hội Bỉ sẽ có buổi tranh luận để ra nghị quyết kêu gọi chính phủ có thái độ trước lời nói của Giáo Hoàng.

Trong khi đó, cộng đồng mạng trên Facebook tiến hành chiến dịch xuyên quốc gia mang tên “Condom cho Giáo Hoàng Benedict XVI”, dự tính sẽ mua và gửi đến Giáo Hoàng hàng triệu bao cao su. Nguồn tin gần gũi với Giáo Hoàng tại Ý cho biết có khoảng 60 ngàn người nhập cuộc và họ hy vọng chiến dịch sẽ tràn qua các nước khác, đặc biệt là Hoa Kỳ và Anh. Hiện đã có hàng ngàn người ở Pháp, Anh, Đức, Áo và Bulgaria tham gia. Một thành viên của cộng đồng mạng Facebook viết mình “kinh ngạc” khi thấy một người cống hiến cả cuộc đời để truyền bá các nguyên tắc đạo đức “mà sao lạc hậu và trong vấn đề này lại có thể hạn chế, mù quáng và thiếu trách nhiệm như vậy”. Người khác viết rằng, “những người chăn dắt tinh thần nói chung không làm tình, vậy sao họ có thể nói người khác phải làm thế nào?”. [3]

Giới chuyên môn cũng không tiết kiệm những lời phê phán. Tạp chí y học uy tín “The Lancet” với bài “Sự cứu rỗi dành cho Giáo Hoàng” cáo buộc Giáo Hoàng Benedict XVI “đã tráo đổi các xác định khoa học trước công luận nhằm quảng bá học thuyết công giáo” và đòi Giáo Hoàng phải rút lại những phát biểu của mình.

Người bình luận của nhật báo Ý La Republica gọi những câu nói của Giáo Hoàng Benedict là “ngớ ngẩn” và nhấn mạnh rằng nó sẽ tiếp tục là chuyện ngớ ngẩn kể cả người nói ra là Giáo Hoàng.

Vài lời bàn
Với việc giảm sút dân số, cùng với chủ nghĩa vật chất, hưởng thụ xâm nhập sâu vào cách sống hàng ngày tại các nước phương Tây, chuyến công du của Giáo Hoàng Benedict XVI tới Phi châu không nằm ngoài mục đích quan trọng nhất là phát triển cộng đồng công giáo tại nơi mà người ta ước tính sau 15 năm nữa, cứ 6 người theo đạo công giáo trên thế giới sẽ có 1 người của Lục địa Đen.

Phát biểu của Giáo Hoàng có lẽ muốn để phù hợp với quan điểm của Nhà Thờ châu Phi trong chuyến xuất ngoại này, bởi vì tại đây việc phê phán sử dụng các phương tiện ngừa thai trở thành phổ cập, cho dù dịch bệnh AIDS đang phát triển nhất hành tinh.

Ít nhiều chúng ta đã nghe trong vài năm gần đây về các vụ xì-căng-đan lạm dục tình dục trẻ em trong giới giáo sĩ và tu sĩ. Tại Hoa Kỳ, trước áp lực của công lý Giáo hội Hoa Kỳ đã phải trả tiền bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bị lạm dụng tình dục lên tới hàng trăm triệu đôla.
Vào dịp tranh giải Oscar cuối tháng 2/2009 vừa qua, màn ảnh thế giới đã giới thiệu với khán giả bộ phim “Doubt” của John Patrick Shanley, trong đó có các tài tử Hollywood lừng danh như Meryll Streep và Hoffman Phillip Seymour thủ vai.

Câu chuyện trong “Doubt” chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ các xì-căng-đan lạm dụng tình dục của giới tu sĩ. Xem xong, tôi có cảm tưởng bộ phim đã tạo nên một lớp sương mờ trên các giá trị đạo đức. Đọng lại trong tâm cảm con người là nỗi hoài nghi, bứt rứt, sợ hãi, nếu không nói là đang có hiện tượng khủng hoảng lòng tin.

Tôi cho rằng, trong bối cảnh không dễ dàng hiện nay đối với Nhà Thờ, một nhà trí thức nổi tiếng với hiểu biết cao rộng và uyên bác như Giáo Hoàng Benedict XVI đáng ra phải hành xử khéo léo hơn để tránh phản ứng bất lợi. Báo chí tự do ở các nước dân chủ chẳng buông tha một ai. Có lúc nào mà mấy tay nhà báo lại không rình rập sự sơ hở của các yếu nhân.

Kể ra, khi giải thích cho luận điểm của mình rằng, việc Nhà Thờ giáo dục, khuyên kiêng khem (abstinence) quan hệ tình dục, khuyến khích quan hệ tình dục lành mạnh giữa nam và nữ hay gìn giữ chung thuỷ vợ chồng, cũng mang lại hiệu quả tốt để ngăn ngừa AIDS – nếu Ngài dừng ở đây là đủ. Đằng này, Ngài khẳng định thêm: “sự giáo dục của Nhà Thờ là phương tiện đạo đức duy nhất”. [4]

Ngay Hồng y Godfiierd Danneels (Bỉ) cũng đánh giá Giáo Hoàng “không phải là nhà ngoại giao” và “… Giáo Hoàng không nên nói về vấn đề này. Tôi nghĩ rằng, bao cao su đôi khi là phương pháp duy nhất để cứu mạng sống. Tôi không nghĩ Giáo Hoàng có ý nói không bao giờ nên sử dụng. Ngài nói đơn giản: không phải bằng phương pháp này dạy dỗ mọi người nắm lấy số phận trong tay mình”. [5]

Thế nhưng, Giáo Hoàng cũng chỉ là con người. Có ai trên đời này không bị ít nhất một lần sơ suất trong lời ăn, tiếng nói?
Chỉ những kẻ ngớ ngẩn hay cuồng tín đến mê hoặc mới nghĩ rằng người đại diện cho tư tưởng của mình lúc nào cũng thánh thiện.
________________________________________
Chú thích:
[1]: Nhật báo Ba Lan Dziennik 17/03/2009 – dẫn nguồn của NYT, Daily Telegraph.
[2]: Hãng Thông tấn Ba Lan PAP 18/03/2009 dẫn nguồn của NYT
[3]: Portal Ba Lan Onet.pl 28/03/2009 dẫn nguồn của CNN và Daily Telegraf
[4]: Nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza 17/03/2009
[5]: Portal Ba Lan: Wiadomosci.wp.pl 26/03/2009
________________________________________

Đại hội dân Chúa

Tháng Mười Một 23, 2009 bởi NÓI THẬT

Năm tới, theo thông báo của Hội đồng Giám mục Việt Nam thì “Đại hội dân Chúa” sẽ diễn ra tại TP Hồ Chí Minh. Bà hàng xóm nhà tôi sáng sớm nay vừa quét lá quèn quẹt trước ngõ, vừa than “cha bảo cộng đoàn đóng góp thêm, ai cho thấy lòng mình rộng rãi, Chúa sẽ thưởng thêm”. Bà này, lấy chồng nên theo đạo, đi lễ sáng chủ nhật về chỉ khen nhà thờ mát, linh mục nói to, rồi ước giá được nằm trên ghế dài trong nhà thờ “ngủ một phát cho đã”.

Bác Trần Chung Ngọc đã có vài lần bình luận về hai chữ “dân Chúa”. Vị nào quan tâm có thể tìm xem trên www.sachhiem.net.

Một ông linh mục, thuộc dạng chăm chỉ viết lách, nói chuyện về ý định ra một ấn phẩm báo chí nhân dịp này. Chính quyền, nếu hào hiệp đáp ứng mong ước lạc quan này của ông, cũng nên nhớ một chút về tờ “Vì Chúa” trước kia.

Đại thể, tờ báo này ra đời ngày 23/9/1936, phát hành bằng 3 thứ tiếng Hán văn, Pháp văn và quốc văn tại tỉnh Quảng Bình và Huế. Giám đốc tờ Vì Chúa là Võ Văn Am. Tờ báo (khổ 45×30,5 cm) không chỉ đăng tải tin tức về cộng đồng “dân Chúa” loanh quanh đâu đó mà còn đưa tin chính trị thời sự, có cả mục bình luận về Chiến tranh thế giới thứ II, đăng cả tiểu thuyết.

Lại nói về chuyện bình luận về tin tức chiến sự của Thế chiến thứ 2, tờ này viết “Chúa dùng người nào, dẫu Hítle đi nữa, cách nào, xe tăng, trái phá… đi nữa thì mặc ý Chúa, miễn Chúa thương ta”. Rồi viết tiếp “Chúa đã khôn khéo dùng trận giặc này để tẩy trừ những thứ uế tạp trong trần gian. Khói lửa chiến tranh giết hại xác, nhưng ơn Chúa đã cứu biết mấy linh hồn… Nhân loại sẽ được đúc lại cho tinh ròng”.

Rồi dành cả một chuyên mục nói xấu các tôn giáo khác, chủ yếu nhắm vào Phật giáo.

Tôi đọc lại tờ này, nhớ lại vụ Hà Nội ngập lụt năm nào. Ông bạn người Ninh Bình, gia đình đạo gốc 4 đời, rủ tôi đi uống rượu ngay sau một buổi lễ vì chịu không nổi nỗi hân hoan quái gở của cha sở hôm đó. Cha sở là một linh mục ngoài 40 tuổi, đã rao giảng về đức tin và sự trừng phạt, kết thúc bài giảng bằng một câu: “Trận lụt kinh hoàng ở Hà Nội vừa qua với gần 20 người chết xác tín cho chúng ta về cơn giận của Chúa, về sự trừng phạt mà Ngài giáng xuống những kẻ dám báng bổ đức tin, dám xúc phạm danh Ngài và tôi tớ Chúa. Vinh hiển thay quyền năng Thiên Chúa, thương thay những kẻ dám xúc phạm Ngài mà cũng đáng thay cho chúng!”.

Tôi hỏi ông linh mục nọ, rằng nếu chính quyền cho phép ông ra tờ báo, ông viết gì trong ấy? Cha trề môi, bảo “Đố chúng nó dám!”. Rồi lại hỏi “Xin ra báo thì nộp đơn cho ai?”. Rồi kết luận “Viết báo thì dễ thôi, thiếu gì cái để viết. Nhưng bây giờ quan trọng nhất là có đủ tiền, ra báo là tốn kém lắm”.

Thế thì bà hàng xóm thân mến, bà chuẩn bị bỏ lợn ống cho những sáng đi lễ chủ nhật đi là vừa, vì cha xứ đang mơ mộng cầm bút viết báo kìa. Lần này Việt Nam ta có tờ “Cho Chúa”, “Của Chúa” hay “Để Chúa” chăng?

VÀ GẶP JANUSZ LEON WISNIEWSKI

Tháng Mười Một 23, 2009 bởi NÓI THẬT

Ông ấy đây, tại TP Hồ Chí Minh:

Mắt rất xanh. Cái nhìn có lúc lơ đãng.

NÓI VỀ TÔN GIÁO:

“Tôi tin vào Chúa của vật lý”.

Trong truyện ngắn Anorexia nervosa (chứng biếng ăn) của Janusz Leon Wísniewski, nhân vật bà mẹ trong truyện ngắn, một người Ba Lan, đã bình luận về các ngày lễ lạt của Chúa thế này: “Bữa tối Giáng sinh và Noel, đó trước hết là một phần của tiếp thị và quảng cáo. Con trai của một ông thợ mộc từ làng Galilei hẻo lánh trở thành một thần tượng thì có khác gì so với Madonna hay Jackson của con. Toàn bộ cái phần quảng cáo của anh ta, của mười hai tông đồ cơ đốc giáo đó, cùng với Juda, người trung lập nhất, là một trong những cuộc vận động đầu tiên được tổ chức tốt đến thế, nó đã quảng cáo cho một ngôi sao thực sự. Những chuyện kỳ quặc, những lũ con gái sẵn sàng cởi bỏ tất cả chỉ vì một tiếng gọi, lẽo đẽo theo sau thần tượng từ thành phố này đến thành phố khác, chứng lọan thần kinh tập thể, sự phục sinh và lên thiên đường… Jesu, nếu sống ở thời nay, hẳn phải có văn phòng đại diện, luật sư, địa chỉ email và trang www. Họ đã có chiến lược và Kinh Thánh đã ghi lại điều này rất tỉ mỉ. Thiếu quảng cáo, người ta không thể làm chấn động một cường quốc và không thể dựng lên một tôn giáo mới”.

- “Độc giả Ba Lan, đất nước của Kitô giáo, từng có cả một Giáo hoàng, tiếp nhận những chi tiết này như thế nào?”

“Không, tôi không gặp vấn đề gì cả. Ở Ba Lan, văn học không có đề tài cấm kỵ. Là một đất nước Thiên Chúa giáo không có nghĩa là một đất nước không có tự do tôn giáo. Tôi chưa bao giờ gặp sự phản đối từ phía nhà thờ (mà biết đâu nếu gặp sự phản đối này thì tôi có thể sẽ nổi tiếng hơn chăng)? Đúng vậy, tôi hay nói về sự nghi ngờ của mình về Chúa. Tôi không tin vào những thứ trong tôn giáo đó. Cả trong Tình nhân và Cô đơn trên mạng đều có nói đến việc Chúa đã tạo ra nhiều sự kiện bi kịch như thế nào. Tôi là người tin vào Chúa của vật lý. Tôi đến nhà thờ vào ngày thứ Hai trong khi mọi người đến đó vào Chủ nhật, tôi thích đến đó một mình chỉ để ngồi trong tĩnh lặng và suy nghĩ.”

VỀ NGOẠI TÌNH:

“Ngoại tình không phải là vấn đề của ngày hôm nay. Trong văn học thế kỷ 18 đã viết khá nhiều về chủ đề này, có báo động về ly hôn và ngoại tình. Ngoại tình tùy thuộc vào chất sinh hóa của con người. Từ xa xưa, loài người đã có chế độ đa thê. Nhìn chung thì thế này, tổng thể chỉ có 3% số loài có chế độ một vợ một chồng mà loài người thì không nằm trong 3% này. Con người nhanh chóng mất đi cái khát khao là chỉ được biết đến một người, điều này hoàn toàn không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý hay tôn giáo.

Số vụ ly hôn của các gia đình Công giáo Ba Lan tương đương số vụ ly hôn của các cặp không theo tôn giáo nào và cũng tương đương với các gia đình ở Tây Ban Nha hay Mỹ.

Khi người ta không nói chuyện với nhau nữa, lúc ấy sẽ là ly hôn. Nếu diễn tả kiểu toán học thì chỉ có một công thức tốt cho hôn nhân: 90% là nói chuyện thú vị, 10% là tình dục thật là hay.

Đàn ông hay bị nhầm lẫn giữa đòi hỏi tình dục và tình yêu. Họ bị lẫn lộn giữa hai điều này. Có thể vì cơ cấu trong não. Một số người còn có khả năng diễn tả điều đó trên giấy, đặc biệt là trong tòa án nhân dân.

3% loài là những con gì ư? Tôi nhớ là loài chim, cá sấu. Có một loài khỉ rất bé, chúng cứ 8 phút lại thay đổi bạn tình một lần. Thậm chí khi đang làm tình cũng có thể thay đổi bạn tình nếu trong tầm mắt nó thấy một con khác mạnh mẽ hơn. Con cái làm chuyện này chứ không phải con đực. Mà sao lại có nhiều người hỏi về loài khỉ này thế? Định hủy hoại loài này hay sao?”

VỀ NHÂN VẬT NATALIA TRONG “CÔ ĐƠN TRÊN MẠNG”:

“Tôi đã khóc khi viết phần về tình yêu giữa Jakub và Natalia. Vì đó là một câu chuyện thật. Câu chuyện về tình yêu của cha Anđrây và nữ tu cũng có là một câu chuyện thực. Nói chung, Cô đơn trên mạng là một cuốn sách rất thật. Tất cả những cuốn sách đầu tay của tôi đều là những cuốn sách viết về chuyện thật. Điều đó không có nghĩa là Janusz có một mối tình trên mạng như vậy để viết nên Cô đơn trên mạng. Tất nhiên là tôi cũng có những trải nghiệm như thế.

Sau khi viết, thông qua báo chí, tôi mới biết hóa ra mình là người rất hiểu phụ nữ. Khi viết Cô đơn trên mạng, tôi không hề biết điều đó. Tôi không tin là mình có thể hiểu biết phụ nữ đến thế. Nhiều người đàn ông nói mình rất hiểu phụ nữ, những người nói thế có chút gì đó tâm thần hoặc quá ảo tưởng.”

VỀ BỘ PHIM CÔ ĐƠN TRÊN MẠNG:

“Bộ phim ư? Nó gần như bị tách biệt với cuốn sách. 80% người xem không thích bộ phim, 20% ngưỡng mộ một cái gì đó. Những lời phê bình cho bộ phim là về tôi chứ không dành cho đạo diễn bộ phim, vì ông ấy không đưa địa chỉ email lên mạng. Nhưng từ cuốn sách này, có một vở kịch rất hay đã được dựng, người Nga đã dựng kịch và trình diễn tại Saint Petersburg. Nhiều người đi xem để so sánh giữa phim và sách. Phim có âm nhạc rất hay, kỹ thuật rất tốt, có dàn diễn viên nổi tiếng người Ba Lan đóng, quay tại nhiều nơi, chi rất nhiều tiền. Nhưng mọi người không thích xem. Họ muốn đến rạp để khóc nhưng lại không khóc.”.

Tin buồn cho những người hâm mộ Janusz Leon Wisniewski tại Việt Nam là dịch giả Thanh Thư sẽ không dịch thêm cuốn sách nào khác của ông nữa.

SẼ GẶP JANUSZ LEON WISNIEWSKI

Tháng Mười Một 19, 2009 bởi NÓI THẬT

Mai sẽ đi dự một cuộc họp báo, gặp JANUSZ LEON WISNIEWSKI, người đã viết Cô đơn trên mạng, Tình Nhân… Bà chị tôi, người từng vừa đọc Tình Nhân vừa khóc suốt đêm, vì “chị đã từng là tình nhân như thế”, mong ước giây phút gặp người đã viết cuốn sách này cháy bỏng suốt từ khi nghe tin Janusz đến TP Hồ Chí Minh.

Đành phải làm một động tác cảnh báo nguy cơ. Janusz không phải Jakub, sẽ không là một bạch mã hoàng tử hay một gã trung niên đẹp trai nguy hiểm. “Ông ấy hơi hói đấy”, tôi mô tả. “Thì làm sao, chị yêu tất cả những gã hói”, lời đáp. “Ông ấy hơi béo và không hề đẹp trai”, “Chị yêu ông ấy”…

Thế thì thôi, tôi lạy bà, bà đến đi, rồi muốn làm gì điên rồ ở đó thì làm, miễn là đừng làm Janusz sợ đàn bà Việt Nam.

Ông ấy đây, tìm thấy vô số bức trên mạng:

Và đây là căn phòng nơi ông ấy viết và dùng ICQ:

Bức này có vẻ đẹp nhất định:

Và tìm được cả một bài phỏng vấn, có lẽ là bài phỏng vấn hay nhất với J.L. Wisniewski.

Đây:

Trên mạng có cô đơn?

Tiến sĩ tin học và hóa học Janusz Leon Wisniewski cất tiếng chào đời tại Pernika-Toruniu (Ba Lan), hiện sinh sống tại Frankfurt am Main (Đức) bằng nghề nghiên cứu tế bào sinh vật học. Ông nói thạo cả tiếng Đức lẫn tiếng Anh vì làm việc cho một hãng của Hoa Kỳ, nơi ngôn ngữ Anh được dùng chính thức trong giao tiếp và đã có cuộc trình làng rất thành công với tiểu thuyết Cô đơn trên mạng.

Cuốn sách lập tức trở thành hiện tượng văn học thế giới và được người đọc Việt Nam yêu thích nhờ bản dịch của Nguyễn Thị Thanh Thư (được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2006 về tác phẩm dịch). Lần đầu tiên, hàng triệu con người được giảng giải cặn kẽ về ưu thế khi giao tiếp với nhau trong ICQ. (Nên nhớ, ICQ – đọc đầy đủ theo tiếng Anh: I Seek You – là một trong những tiện ích web phổ dụng nhất. Lý do khiến công cụ trò chuyện này được ưa chuộng là khả năng tìm bạn bè và đồng nghiệp trực tuyến, đồng thời báo cho bạn biết khi nào họ sẵn sàng tiếp chuyện bạn. Không giống những công cụ trò chuyện khác – như chat chẳng hạn – chỉ thu hút giới trẻ, ICQ được xem là phương tiện truyền thông tiện lợi và phổ dụng nhất cho giới kinh doanh)…

Cách đây không lâu, nhà văn Janusz Leon Wisniewski đã xuất bản hai tiểu thuyết mới Số phận luân hồi và Người tình, tiếp tục khai thác đề tài về các mối quan hệ trong thế giới ảo với những cái được, cái mất của chúng. Trong chuyến thăm Nga gần đây, nhà văn đã trả lời phỏng vấn của một số báo chí. Xin trích giới thiệu cùng độc giả.

– Những người đã đọc Cô đơn trên mạng khi gặp ông thường nêu câu hỏi gì?
– Do đâu mà tác giả am hiểu phụ nữ như thế.
– Do đâu vậy?
– Do tôi thích trò chuyện với phụ nữ.
– Tức là, khi viết Cô đơn trên mạng, ông dành nhiều thời gian cho việc giao tiếp với phụ nữ?
– Ồ không, không phải thế đâu. Tôi cộng tác với một tạp chí chuyên dành cho phụ nữ ở Ba Lan. Hàng tháng, tôi đăng phóng sự ở đó, mà bà tổng biên tập tạp chí lại là một cốt cán của phong trào nữ quyền. Tôi bảo, tôi là đàn ông, nhưng cũng theo phong trào nữ quyền đây! Đến khi bà ấy hỏi “vậy thì chúng ta có gì khác nhau”, tôi đáp: “Chỉ có một sự khác biệt – tôi không hề giống bác sĩ phụ khoa”.
– Tôi cho rằng, chắc là những người theo trường phái nữ quyền sẽ không thích sách của ông – quá ư là lãng mạn, quá ư là tình cảm.
– Bản thân tôi cũng có nghĩ về điều đó. Nhưng, hình như chính những người theo phong trào nữ quyền cũng gần gũi với chính cái khởi nguyên nữ tính đó. Thậm chí còn rất gần gũi nữa!
– Ông có hay giao tiếp với những người quen bằng ICQ hay không?
– Tôi chưa bao giờ ngồi chat trên mạng, nhưng lại thường xuyên giao tiếp thông qua ICQ. Ở đó có thể lựa chọn người để mà trò chuyện. Câu chuyện của các nhân vật trong Cô đơn trên mạng là chuyện thật hoàn toàn. Tôi biết người phụ nữ đó. Thỉnh thoảng chúng tôi có giao tiếp với nhau. Cô ấy đã ly dị chồng.
– Nhưng cớ sao, khi các nhân vật của ông đã tìm thấy nhau trên mạng, mà sau đó, họ vẫn cứ cô đơn?
– Các nhân vật vẫn cứ cô đơn, bởi vì nhân vật nữ đã quyết định như thế. Cô ấy lâm vào tình thế khó xử của một mối tình tay ba. Còn anh ấy thì coi mối tình của cô là mối tình trọn đời, đồng thời lại là bi kịch lớn. Bởi vì anh ấy là con người siêu nhạy cảm, cho nên đành phải tuân thủ quyết định của cô ấy, và không muốn xúc phạm đến người đàn ông mà cô ấy đang sống chung.
– Thật lạ lùng, khi giữa hai con người ấy đã nảy sinh một cuộc tình trên đại thể. Bởi vì phần lớn câu chuyện, khi con người giao tiếp với nhau thông qua internet, họ cứ tưởng rằng đã rất gần gũi với nhau, thế nhưng sau đó gặp nhau, họ đều có cảm giác rằng chỉ thấy trước mặt một con người hoàn toàn khác, hoàn toàn xa lạ.
– Tôi cũng luôn luôn nghĩ về điều đó. Đã có những cuộc điều tra xã hội học cho thấy 78% trường hợp trong cuộc sống đã diễn ra đúng như thế. Từ một phương diện khác, trong các lý do thúc đẩy người ta đi kết bạn trên mạng, thì những thông số về thể chất không hề có một ý nghĩa gì. Một người còn trẻ ngồi xe lăn và một người có vẻ đẹp như siêu nhân sẽ có cơ hội ngang nhau trên mạng. Ngoài ra, một người đàn ông khi đến một sàn khiêu vũ, một tiệm ăn nhẹ, một quán rượu mà muốn làm quen với ai thì việc đầu tiên là để ý đến người phụ nữ nào có vẻ hấp dẫn, chứ người phụ nữ kém hấp dẫn không có cơ hội tự kể về mình. Thực tế đó thường được người ta gọi là “hội chứng quán bar”. Trên mạng internet thì cái “hội chứng quán bar” ấy không hề tồn tại. Nhân đây cũng phải nói là kết quả điều tra xã hội học cho thấy có đến 90% đàn ông đinh ninh rằng mình đang lên mạng làm quen với một người phụ nữ cực kỳ hấp dẫn. Thậm chí, các nhà điều tra còn rút ra một nhận xét là tất cả các anh chàng khi ngồi trước màn hình computer để vào mạng đều có một phản xạ hết sức độc đáo: Họ làm như đang ngồi trên bãi biển vậy, cũng duỗi người, ưỡn thẳng bụng. Đó là sự thực. Internet có cái tốt là ở chỗ đó – những người đàn ông và những người đàn bà không được hấp dẫn cho lắm vẫn có thể gặp gỡ, trò chuyện với nhau. Còn nếu như sau đó họ có gặp nhau trong đời thực, thì chuyện người đàn bà ngực không được nở, hoặc người đàn ông đã sắp hói đầu ỏng bụng đã không còn quan trọng nữa. Tôi biết đích xác điều đó – sau khi xuất bản Cô đơn trên mạng, tôi nhận được 29.000 thư điện tử. Tôi biết có nhiều câu chuyện cùng khẳng định điều đó. Nhưng cũng có những trường hợp người ta không muốn gặp nhau trong đời thực – họ chỉ muốn đi cho đến cùng – con đường của nỗi tương tư.
– Nếu như loại bỏ ICQ khỏi cuốn sách, tác phẩm của ông sẽ thành một cuốn tiểu thuyết truyền thống, kiểu mối tình qua những bức thư…
– Hoàn toàn đúng. Những bức thư đó có thể chuyển phát bằng những chiếc xe tay cổ lỗ. Nhưng internet bảo đảm được một điều mà những chiếc xe tay không đảm bảo nổi – tất cả đều diễn ra tức thì. Một bức thư thông thường phải mất hai ba ngày để chuyển đến địa chỉ. Trong khoảng thời gian đó, nhân vật nữ có thể không khóc, không hồi hộp nữa, mà cũng có thể đã chuyển sang yêu người khác. Tôi có những người bạn quen, do những hoàn cảnh khác nhau, bắt buộc phải rời khỏi Ba Lan, và họ phải quy định với “một nửa của mình” để thường xuyên gặp nhau vào một giờ nhất định trước màn hình computer. Họ đặt sẵn camera, họ nhìn thấy nhau, họ cùng đặt sẵn một thực đơn, một loại rượu vang như nhau, thậm chí còn cởi hết cả quần áo ra nữa. Bằng cách đó, nhiều cặp vợ chồng đã được duy trì, bất chấp khoảng cách và thời gian chia ly. Đương nhiên, đấy chỉ là trò ảo, nhưng dẫu sao trò ảo đó cũng duy trì được các mối quan hệ con người. Đã có những công trình nghiên cứu đặc biệt chứng minh được rằng thành phần hóa học của máu trong não bộ của hai người trong lúc đó giống hệt nhau. Tôi vốn là nhà hóa học, tôi biết điều đó.
– Nhưng ở đây còn có một thái cực khác: Nếu như con người bắt đầu sống với cuộc sống trên mạng, người đó sẽ tự động rớt khỏi cuộc sống thực tế vây bọc quanh mình.
– Tôi không đồng ý với ý kiến đó. Nếu như tôi tu một cốc bia hơi, điều đó không có nghĩa tôi là một con ma men.
– Ông nhận xét thế nào về bộ phim dựng theo tiểu thuyết Cô đơn trên mạng, trong đó ông trình làng với tư cách một diễn viên phụ người Đức?
– Bộ phim đã gây thất vọng lớn cho nhiều người đang hâm mộ tôi. Họ mong đợi một sự chuyển thể chính xác – ở cả cấp độ cảm xúc lẫn cấp độ cốt truyện. Nhưng trên thực tế đã không thể nhét cả một pho tiểu thuyết dày với vô số nhân vật vào hai giờ đồng hồ chiếu phim. Trong phim, âm nhạc thật là tuyệt vời, các diễn viên diễn rất cừ, đạo diễn rất tài và quay phim vào hạng tốt nhất, nhưng về tổng thể lại là một bộ phim không thành công.
– Tuyển tập truyện ngắn mới nhất của ông – Người tình – tiếp tục khai thác đề tài cô đơn?
– Tập đó gồm sáu truyện ngắn, liên kết bởi một đề tài chung: Kinh nguyệt, từ thời thiếu nữ đến chu kỳ giữa hai lần kinh nguyệt. Một truyện ngắn trong tập có nhan đề như thế, nhưng các nhà xuất bản ở Ba Lan – một đất nước theo Kito giáo – đã từ chối đặt tên đó cho cuốn sách. Ở Nga cũng vậy. Nhan đề nguyên tác chỉ được khai sinh ở Croatia. Tôi cũng lấy làm ngạc nhiên là ở Việt Nam, người ta cũng quan tâm tới cuốn sách này (dịch giả Nguyễn Thị Thanh Thư đã chuyển tác phẩm này tới độc giả tiếng Việt, bản dịch mang tên Lạc nhịp, NXB Phụ Nữ 2005).

Thanh Chi giới thiệu và dịch

Về tác giả entry “Trẻ học Anh văn sớm và câu chuyện Háo A Dzù”

Tháng Mười Một 4, 2009 bởi NÓI THẬT

Tôi post một ghi chép của ông bạn mình lên blog, bài viết “Trẻ học Anh văn sớm và câu chuyện Háo A Dzù” như một chia sẻ mà tôi nghĩ là rất hữu ích cho nhiều cặp cha mẹ, không ngờ lại nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của bà con. Nhiều người đề nghị cho rinh entry về blog nhà.

Trên blog chú Huy Bom, tôi có comment nói thêm về tác giả bài viết. Rất nhiều bạn cũng đề nghị cho biết chủ nhân của bài viết là ai. Và đỉnh cao của các loại đỉnh cao là chính chủ nhân bài viết yêu cầu tôi “đề rõ nguồn, nếu không sẽ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”.

Tôi thì chả thích vi phạm pháp luật bao giờ. Cụ thân sinh tôi sinh thời có dặn “Ở đời, đừng làm 3 việc: thứ nhất là đừng bao giờ nghĩ mình đã học đủ, thứ hai là đừng bao giờ cãi nhau với thằng ăn cắp, thứ ba là đừng bao giờ vi phạm pháp luật”.

Vậy nên tôi sẽ cố gắng giới thiệu một cách đầy đủ nhất về ông bạn tôi, đặng giúp bà con tường tận về người đã viết entry chí lí kia.

Ái chà, giờ mới thấy hổng ngon ăn tí nào.

Vì cái ông này, là một nhân vật rất kỳ.

Kỳ thứ nhất là hình dong hầm hố. Tuy chưa tới mức “mặt dữ như cọp, mắt ốc tròn xoe, hàm én râu hùm, tiếng nói rền như sấm” nhưng kẻ nào yếu bóng vía nhìn sơ qua cũng thấy ngài ngại.

Kỳ thứ hai là nói năng lại nhỏ nhẹ, êm ái, tuy cũng chưa đạt đến độ “thanh âm trong trẻo, ngôn từ trơn láng, êm tai bậc cao niên, ấm lòng kẻ thơ dại” nhưng 10 phần cũng được 6,7.

Kỳ thứ ba là làm một công việc thâm thúy, cơ mưu mà bản tính lại xưng xưng công khai ưa rượu ngon gái đẹp.

Kỳ thứ tư là đàn ông mà chăm chút con cái tỉ mẩn như nhũ mẫu, tường tận từng miếng ăn giấc ngủ, biết rõ từng vết xước chỗ đau, hiểu kỹ từng sở thích ý nghĩ của con. Nam nhi như vậy xưa nay hiếm.

Lão tên là Trần Hà Nguyên. Mệnh Tang Đố Mộc, sao chủ mệnh Cự Môn, sao chủ thân Thiên tướng. Xét về tính tình thì tuổi già cũng như trẻ, tâm trí hay suy nghĩ. Xét về mệnh thì là người lãng mạn, có văn tài xuất chúng, đặc biệt là tài mô phạm, khả năng giáo khoa và năng khiếu lý triết gia. Cẩn thận với chó vì thường bị chó ghét và xâm phạm chân tay.

Nay xin cáo bạch với thiên hạ về chủ nhân entry đã nói. Muốn biết thân thế, sự nghiệp của lão này về sau ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.

LẪN ĐẠO!

Tháng Mười 28, 2009 bởi NÓI THẬT

Để tiếp nối mạch viết của bác Trần Chung Ngọc, xin post thêm phần 2. Đây cũng là câu trả lời cho 17 vị comment những lời khiếm nhã, thiếu suy nghĩ về entry trước (mà để không bẩn mắt những người tử tế khác, tôi đã xóa đi).

YẾU TỐ VÔ ẢNH NHƯNG KHẢ NGHI

Trần Chung Ngọc , 22 tháng 10, 2009

Sau đây chúng ta hãy đi một chút vào những hoạt động tôn giáo và một số những lời giảng dạy của Làng Mai để cho vấn đề được rõ ràng.

Lá thư Làng Mai viết:

Xem các thầy và sư cô Làng Mai như những nhà truyền giáo ngoại quốc, đó là chuyện không ai có thể hiểu nổi. Họ chỉ là những đứa con của đất nước luôn luôn mang trong lòng niềm thao thức về đóng góp cho đất nước mà thôi. Những gì họ muốn đóng góp không phải là văn hóa và kỹ thuật đem từ bên ngoài vào, trái lại chỉ là những gì rất thuần túy văn hóa dân tộc.

Mặt khác, Thiền sư Nhất Hạnh cũng giảng:

Chúng ta biết rằng giáo lý của đạo Bụt mà muốn cho đích thực là giáo lý của đạo Bụt, thì giáo lý đó phải có hai tính cách. Tính cách đầu là Khế lý, tính cách thứ hai là Khế cơ…. Khế lý nghĩa là nó đích thực phải là Phật pháp, Phật pháp chính tông, không phải là thứ Phật pháp biến hình.

Nhưng:

Chúng ta biết rằng, hàng năm ở Làng Mai cũng như ở Tu Viện Lộc Uyển đều tổ chức ăn mừng Lễ Giáng Sinh, hát Thánh Ca v..v… Từ bao giờ truyền thống Phật Giáo có nghi thức này? Mang những nét văn hóa này nhập cảng vào Việt Nam thì có phải là khế cơ không? Về phương diện xã giao thì nhân dịp Lễ Giáng Sinh một chức sắc Phật Giáo, nếu được mời, có thể đến dự lễ do nhà thờ tổ chức và chúc mừng tôn giáo bạn. Nhưng chuyện nhà Chùa tổ chức lễ Giáng Sinh và hát Thánh ca là chuyện chưa từng thấy ở Việt Nam. Rất có thể khi “ Làng Mai ” phát triển ở Việt Nam thì các Chùa cũng phải theo tập tục này. Lẽ dĩ nhiên Làng Mai có quyền tổ chức bất cứ lễ lạc nào mà mình muốn ở ngoại quốc, dù những lễ lạc đó không nằm trong truyền thống Phật Giáo Việt Nam. Khoan kể là ngày nay, thế giới Tây phương, ít ra là trong giới hiểu biết và trí thức ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo đã nhìn vai trò của Chúa Giê-su như thế nào.

Lá thư Làng Mai là để truyền bá những giáo lý của Tăng thân Làng Mai và tất nhiên để cho mọi người thuộc Giáo hội Làng Mai đọc, suy gẫm và thực hành. Trong Lá Thư Làng Mai số 32 tôi đọc được bài “Tin Mừng” của Chân Pháp Đệ, một cựu Linh mục nay theo Làng Mai. Trong bài này, có đoạn Chân Pháp Đệ viết:

“Nghe hồi chuông cầu kinh Đức Bà cũng giống như tiếng gọi của Đức Ki Tô, gọi tôi quay về với chân tâm và mời tôi làm như Mẹ Mary: mang năng lượng Chúa Thánh Thần, sản sinh ra Đức Ki Tô trong cuộc đời mình, trong thân và tâm mình. Hồi chuông cầu kinh Đức Bà làm tôi thức tỉnh, nhận ra rằng cũng như Mary, các anh chị em tôi đều mang “tâm thức của Đức Ki Tô” ngay bây giờ và ở đây. Chất Thánh Nữ của Mary có mặt rất rõ trong tôi, nơi Thiền viện Phật Giáo này (Người Phật tử nhận diện Mẹ Mary như Đức QuánThế Âm (Avalokita)).

Nhiều người trong chúng ta có thể tiếp xúc với DNA tinh thần [sic] của Mẹ Mary qua thực tập Thiền lạy, khi chúng ta áp người sát đất và quán tưởng về năng lượng trị liệu của Đất Mẹ trong mỗi chúng ta và trong Tăng thân”

Ngoài ra Chân Pháp Đệ còn viết về những điều như “Tội tổ tông”, Đức Mẹ “thụ thai vô nhiễm” v..v…, những tín điều mà Tây phương đã không còn tin nữa.

Tôi tự hỏi, không biết từ bao giờ mà người Phật tử và là người Phật tử nào đã “nhận diện Mẹ Mary như Đức Quán Thế Âm (Avalokita)”. Những niềm tin của thời Trung Cổ trên tất nhiên là những ý kiến cá nhân của Chân Pháp Đệ, nhưng lấy ý kiến của mình áp đặt lên “Người Phật tử” là điều khó có thể chấp nhận, mà nó lại nằm trong Lá Thư Làng Mai, điều khó hiểu nếu không nằm trong sự truyền bá văn hóa Ki-tô của Làng Mai. Nhưng không phải chỉ có Chân Pháp Đệ mới viết lên được những câu như trên, nếu chúng ta đã đọc những cuốn như “Living Buddha, Living Christ”, và “Going Home: Jesus and Buddha as Brothers” của Thiền sư Nhất Hạnh.

Rất có thể đối với một thiền sư như Thích Nhất Hạnh, hoặc với mục đích giới thiệu Phật Giáo cho người Tây phương, và Thiền sư đã thành công, đại thành công, cho nên Thiền sư đã viết lên những cuốn sách như vậy. Nhưng trong lãnh vực học thuật (scholarship) và về phương diện nghiên cứu trí thức thì những cuốn sách đó không nói lên được điều gì ngoài chuyện làm vui lòng các tín đồ Ki Tô Giáo nhưng lại làm hoang mang các tín đồ Phật Giáo không thuộc hệ Làng Mai. Đây là điều tôi cho là nguy hiểm đối với giới Phật tử vì thường không phải ai cũng có trình độ nghiên cứu vấn đề một cách kỹ lưỡng, và những gì viết ra bởi một Thiền Sư nổi tiếng như Thiền sư Nhất Hạnh bao giờ cũng có giá trị và được đánh giá cao. Nhưng vấn đề chính ở đây là, tôi có cảm tưởng là TS Nhất Hạnh không nghiên cứu kỹ về Ki Tô GiáoTôi sẽ trình bày vấn đề này với một số chi tiết.

Hai khuôn mặt trái ngược

Điều đầu tiên chúng ta cần nhận thức là, nếu nghiên cứu kỹ thì khuôn mặt của Đức Phật trong Kinh điển Phật Giáo và khuôn mặt của Jesus trong Tân ước hoàn toàn đối ngược nhau, từ đời sống cho đến những lời nói. Chúng ta sẽ thấy Đức Phật khiêm nhường bao nhiêu thì cũng thấy Jesus tự cao tự đại tự tôn bấy nhiêu. Chúng ta sẽ thấy ngôn ngữ của Đức Phật êm ái bao nhiêu thì cũng thấy ngôn ngữ của Jesus khó nghe bấy nhiêu. Đây là những sự thực không ai có thể chối cãi nếu đã đọc kinh điển Phật Giáo và Tân Ước và tôi sẽ chứng minh ngay sau đây.

Có thể nói, tôi là người nghiên cứu khá kỹ về cuốn Thánh Kinh cũng như về Ki Tô Giáo, cho nên tôi thấy khựng lại khi đọc một số tư tưởng ngoài Phật Giáo của một Thiền Sư Phật Giáo. Tôi không biết Thầy hiểu thế nào về những quan niệm về Thượng đế, Thánh Linh, Thiên đường, Nước Chúa v..v.. trong Ki-tô Giáo, nhưng đối với tôi, tất cả những gì Thiền sư Nhất Hạnh viết về Thượng đế, Thánh Linh, Thiên đường, Nước Chúa v..v.. trong Ki-tô Giáo đều không phù hợp với những điều mà tôi đã đọc trong hàng trăm tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo của các học giả Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo, và đặc biệt của một số lãnh đạo cao cấp trong Ki Tô Giáo.. Đây là tôi nói về lãnh vực học thuật chứ không dám bàn đến lãnh vực tâm linh mà ai cũng có thể hiểu và tin theo cách riêng của mình. Thật vậy, chúng ta hãy đọc một số ý tưởng của Thiền sư Nhất Hạnh trong Chương 4 của cuốn “Living Buddha, Living Christ” qua bản dịch của Chân Văn trên báo Người Việt trước đây:

Trong phạm vi bài viết này, tôi không thể đưa ra những nhận xét về những ý tưởng của Thiền sư Nhất Hạnh trong Chương này mà chỉ có thể điểm qua vài ý tưởng điển hình của Thiền sư. Thiền sư viết:

- Đức Ki Tô Hằng Sống là Con của Thượng Đế, đã phục sinh, và nay vẫn còn tiếp tục sống.

- Tôi thấy chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập. Giêsu sống đúng như lời dạy của Ngài, cho nên suy gẫm cuộc đời Chúa Giêsu là điều tối cần thiết để hiểu giáo lý của Ngài.

- Trong nhãn quan Phật Giáo, ai không phải là con của Thượng đế?

- Tội tổ tông cũng có thể được chuyển hóa khi một người tiếp xúc với Thánh Linh. Giêsu là con của Thượng Đế và con của Người. Chúng ta cũng là con của Thượng Đế và của song thân chúng ta.

- Nơi duy nhất chúng ta có thể tiếp xúc với Giêsu và Nước Chúa là ở trong nội tâm mình.

- Khi chúng ta theo dõi và tiếp xúc một cách sâu sắc với cuộc đời và giáo lý của Chúa Giêsu,

- chúng ta có thể thâm nhập vào sự thật của Thượng Đế. Tình yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm, sự bao dung, là những biểu hiện của cuộc đời Chúa Giêsu. Thượng Đế xuất hiện với chúng ta qua Giêsu Ki Tô. Với Thánh Linh và Nước Chúa ở trong Ngài.

Thật quả tôi hết sức ngỡ ngàng khi đọc những đoạn trên. Nếu những đoạn trên mà viết bởi một người Ki-tô Giáo ít hiểu biết thì không nói làm gì [trong thời đại ngày nay, không một nhà thần học Ki-tô Giáo nào có hiểu biết về Kinh Thánh và về Chúa Giê-su của họ dám viết như trên], nhưng nếu nhân danh Phật Giáo mà viết như vậy thì thật là ngoài sức tưởng tượng của tôi. Hiển nhiên là người viết những câu trên đã không biết đến những nghiên cứu về Ki-tô Giáo và về chính nhân vật Giê-su trong 200 năm nay của hàng trăm học giả, chuyên gia về Ki-tô Giáo, ở trong cũng như ngoài các giáo hội Ki-tô, kể cả một số nhà thần học, linh mục, mục sư v..v… Sau đây chúng ta sẽ đi vào những điểm trên với những tài liệu trong lãnh vực học thuật.
Về Chúa Giê-su:

Học giả Ki-tô Russell Shorto đã viết trong cuốn “Sự Thật Trong Phúc Âm” (Gospel Truth) như sau:

“Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.”

(Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

Cho nên, những câu như “Chúa Ki-tô là Đức Hằng Sống, là Con Một của Thượng đế, đã Phục Sinh v..v..”thì không còn mấy ý nghĩa đối với những người ở ngoài đức tin Ki-tô Giáo cũng như đối với giới hiểu biết trong Ki-tô Giáo. Lẽ dĩ nhiên, ai cũng có quyền nhận xét về Giê-su theo ý mình, nhưng theo tôi, những lời thuyết giảng trên, nếu nhân danh Phật Giáo, thì thật là nguy hại và thiếu tinh thần trách nhiệm. Thiếu tinh thần trách nhiệm và nguy hại vì các tín đồ Ki-tô giáo có thể hài lòng trước những lời trên, và kết quả là vẫn tiếp tục sống trong trong bóng tối của sách lược che dấu sự thực của các giáo hội Ki-tô. Còn đối với đa số Phật tử trong mọi giới, thì những lời giảng trên sẽ gây hoang mang nếu không muốn nói là gây nguy hại cho Phật Giáo. Tại sao?

Vì Phật Giáo trên thế giới đang phải đối phó với sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki-tô Giáo, một sách lược mà Tiến Sĩ C. de S. Wijesundera ở Tích Lan lên án là “tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá, và đại quy mô.” (They [the Christians] were engaged, Dr. C. de S. Wijesundera said, in a “despicable, treacherous, indecent and massive assault on Buddhism”.) Nhiều tài liệu đã in thành sách và ở trên Internet đã chứng tỏ là sách lược này đang được tích cực thi hành ở Ấn Độ, Thái Lan, Tích Lan, Việt Nam v..v.. Đáng lẽ Phật Giáo phải dấn thân tìm cách đối phó với sách lược ti tiện, xảo trá và đại quy mô tấn công Phật Giáo để cải đạo người Phật tử, thì chúng ta lại được dạy phải quán chiếu để mà tu tập theo Giê-su. Vấn đề ở đây không phải là chúng ta không nên theo những cái hay của các vĩ nhân trên thế giới, nhưng về phương diện tu tập trong Phật Giáo, Cuộc đời Đức Phật, Giáo pháp của Đức Phật không đủ hay sao, gương tu hành của các Tổ, các Cao Tăng trong Phật Giáo không đủ hay sao, mà chúng ta còn phải tu tập theo Giê-su, những tư tưởng và hành động của Giê-su mà thực sự chúng ta không biết rõ nếu chưa nghiên cứu kỹ Kinh Thánh và cuộc đời của Chúa Giê-su trong đó.Thử hỏi, có cái gì của Giê-su, từ giáo lý, nếu có, đến phương pháp tu tập, nếu có, mà không có trong các tôn giáo khác, trong dân gian, ngoại trừ điều Giê-su dạy phải tin vào Cha của ông ta và phải tin vào chính ông ta nếu không thì sẽ bị đày hỏa ngục vĩnh viễn? Đối với những người có đôi chút hiểu biết về Phật Giáo cũng như Ki-tô Giáo thì không ai có thể chấp nhận, nghe theo những lời khuyên như trên. Trái lại họ còn cảm thấy lo lắng vì Phật Giáo đang bị phá ngầm bởi một quan niệm đối thoại sai lầm.

¨ Thượng đế là gì?

Trước hết, theo nhãn quan Phật Giáo nào mà quan niệm rằng: “ai không phải là con của Thượng Đế?” khi không hề định nghĩa Thượng đế là cái gì? Phật Giáo có chấp nhận một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ muôn loài hay không? Phật Giáo có chấp nhận là một Thượng đế nào đó đã sáng tạo ra loài người hay không? Mấy chục năm nay, tôi đã đọc không ít sách, báo, Kinh điển Phật Giáo, nhưng tôi không thấy ở đâu viết rằng Phật Giáo tin là có một Thượng đế, nhất lại là Thượng đế của Ki-tô Giáo, theo quan niệm của Ki-tô Giáo.

Một khuôn mặt Phật Giáo có uy tín nhất trong thế giới ngày nay là Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài đã khẳng định lập trường của Phật Giáo đối với quan niệm Thượng đế của Ki-tô Giáo: “Phật Giáo đã luôn luôn tự kiềm chế trong việc khẳng định sự hiện hữu và thuộc tính toàn năng của một Thượng đế sáng tạo” [The Spirit of Peace: Teaching on Love, Compassion and Everyday Life, by His Holiness the Dalai Lama,, p.71: Buddhism has always refrain from asserting the existence and the omnipotence of a creator god]. Điều này có nghĩa là Phật Giáo chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chấp nhận sự hiện hữu và toàn năng của một Thượng đế sáng tạo ra muôn loài. Vậy nhãn quan Phật Giáo nào, dựa vào kinh điển Phật Giáo nào, mà cho rằng: “ai không phải là con của Thượng Đế?” Nếu chúng ta quan niệm Thượng đế như là một sinh thể ban khai, hay là cát bụi trên những ngôi sao [theo Giáo sư Trịnh Xuân Thuận], thì theo tinh thần thuyết Tiến Hóa ngày nay, câu trên có thể đúng. Nhưng hiển nhiên đó không phải là Thượng đế của Ki-tô Giáo.

Chúng ta cần phải nhớ rằng, danh từ Thượng đế là danh từ người Ki-tô Giáo Việt Nam gọi Thần Ki-tô [Christian God] của họ, Thần Jehovah của Do Thái, và đó chính là Thượng đế trong Kinh Thánh của Ki-tô Giáo, là Cha của Giê-su, chứ không phải là Thượng đế theo cái hiểu khác của bất cứ ai. Thí dụ, Einstein cho rằng Thượng đế là những định luật thiên nhiên trong vũ trụ, trái hẳn với quan niệm về Thượng đế của Ki-tô Giáo, một ông thần ngồi trên trời định đoạt số phận của con người, để quyết định xem ai là người được thưởng cho lên thiên đường, ai là người bị phạt, phải đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt. Nhưng Einstein chỉ dùng danh từ Thượng đế (God) để nói một cách diễu cợt, vì Einstein không tin có một Thượng đế thưởng phạt như vậy. Tại sao ta phải gán ghép danh từ Thượng đế vào những định luật thiên nhiên mà không gọi chúng đơn giản chỉ là những định luật thiên nhiên? Vả lại, chẳng có ai đi cầu nguyện hay thờ phụng hay yêu hết lòng hết sức những định luật thiên nhiên, thí dụ như định luật vạn vật hấp dẫn.

Nhưng thật ra Thượng đế là gì? Theo sách của Công Giáo [National Catholic Almanac, 1968, trang 360] thì Thượng đế của họ có 23 thuộc tính trong đó có những thuộc tính đặc biệt như “không ai biết được” (unknown), “không ai thấy được” (invisible), “không ai hiểu được” (incomprehensible), “không thể mô tả được” (ineffable). Cho nên bất cứ con người nói gì về Thượng đế chỉ là đoán mò. Hơn nữa, đọc về Thượng đế trong Cựu Ước, không phải là không có cơ sở khi các học giả trong Ki Tô Giáo đã đưa ra những nhận định như sau:

1) Tổng Thống Thomas Jefferson của Mỹ, sau khi đọc cuốn “Thánh Kinh”, đã nhận định về Thượng đế của Ki Tô Giáo là “một nhân vật có tính tình khủng khiếp – độc ác, ưa trả thù, đồng bóng, và bất công” [Thomas Jefferson describes The God of Moses as “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust].

2) James A. Haught: Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thượng đế ở trên trời với lòng “quá thương yêu thế gian” không đứng vững. Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra mọi thứ hiện hữu thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần). Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai. Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy. Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

[Haught, James A., 2000 Years of Disbelief: Famous People with the Courage to Doubt, p. 324: Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doesn't hold water. If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDs, Alzheimer's disease, and Down's syndrome. He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns. No human would be cruel enough to plan such horrors. If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.]

3) Giám mục John Shelby Spong: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thượng đế mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. [ John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 24: A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

4) Linh mục Công giáo James Kavanaugh viết về “Huyền Thoại Cứu Rỗi” trong cuốn Sự Sinh Ra Của Thiên Chúa (The Birth of God), xin đọc: http://sachhiem.net/TCNtg/TCN36.php:

Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy, trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ [Thượng đế ], chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con mình. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).
5) Nhưng đặc biệt hơn cả là khi đọc Richard Dawkins trong cuốn “The God Delusion”, ấn bản 2008, tôi thấy tác giả đưa ra tới 16 nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo rất đáng để chúng ta nghiên cứu để tìm hiểu sự thật. Mở đầu Chương 2, trang 51, về “Giả Thuyết Về Thượng đế ” [The God Hypothesis], tác giả Richard Dawkins viết:

Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thượng đế trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường.

[The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.]

Chẳng có lẽ những người như trên [trừ Richard Dawkins là người vô thần] lại không hiểu rõ về Thượng đế của họ hay sao? Mặt khác, tất cả những tính nết của Thiên Chúa hay Thượng đế mà Richard Dawkins đưa lên như trên đã được Steve Wells chứng minh, viện dẫn những câu trong chính cuốn Cựu Ước. Vậy sự thật của Thượng đế và của con ông ta, Giêsu, là cái gì? Tôi không nắm được ý của Thiền sư Nhất Hạnh.

¨ Không nên nhìn tôn giáo khác qua lăng kính tôn giáo mình

Trong cuộc đối thoại tôn giáo, một trong những sai lầm trầm trọng và nguy hiểm nhất là chúng ta nhìn tôn giáo khác qua lăng kính của tôn giáo chúng ta, hoặc đưa ra những nhận định về một tôn giáo khác mà chưa nghiên cứu, chưa tìm hiểu kỹ càng về tôn giáo đó. Thí dụ, chúng ta là Phật tử, khi bàn về Thượng đế của Ki tô giáo mà lại bàn theo quan niệm của chúng ta về Thượng đế như là Phật tánh hay gì gì đi nữa trong Phật Giáo thì thật sự chúng ta chưa hiểu thế nào là Thượng đế của Ki tô giáo, chưa hiểu người Ki-tô giáo và nền thần học Ki-tô Giáo quan niệm thế nào về Thượng đế của họ để tạo thành nền tảng tín ngưỡng của Ki-tô giáo. Kiểu luận bàn này thực chất không khác gì người Ki Tô Giáo quan niệm Đức Phật chỉ là một ngôn sứ của Thượng đế của họ, và nền thần học Ki tô mới sáng chế ra gần đây với tên “Thần Học Ki-tô Giáo Theo Cung Cách Á Châu” đã diễn giải Đức Phật chỉ là người mở đường cho nhân loại dẫn đến sự “cứu rỗi” của Đức Giê-su Ki-tô (Jesus Christ) mà thực chất sự “cứu rỗi” chỉ là một huyền thoại cần phải dẹp bỏ [Xin đọc bài Huyền Thoại Cứu Rỗi của Linh mục James Kavanaugh và Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ của Giám mục Tin Lành John Shelby Spong trên trang nhà Giao Điểm và Sách Hiếm], và Giê-su chỉ là một nhân vật đầy tính thế tục đã được nền thần học Ki-tô Giáo dựng lên làm Chúa Cứu Thế cho cả nhân loại..

Thứ đến, trước những tác phẩm nghiên cứu về chính nhân vật Giê-su của một số học giả, chuyên gia về Ki-tô Giáo, trong đó có cả những nhà thần học Ki-tô Giáo mà uy tín chuyên ngành khó có ai có thể phủ nhận, và nếu chúng ta chịu khó đọc kỹ Tân Ước về tất cả những lời nói và hành động của Giê-su như được mô tả rõ trong Tân Ước, thì nếu chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Giê-su để mà theo đó mà tu tập thì không hiểu chúng ta phải tu tập theo hành động nào và lời dạy nào. Trong cuốn Hãy Cứu Thánh Kinh Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing the Bible From Fundamentalism), Giám mục Tin Lành John Shelby Spong viết:

Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical). Và, đây là những lời phê phán của một Giám Mục Tin Lành, chứ không phải của người ngoại đạo. Có thể nào một Giám mục thờ Chúa lại có thể phê phán Chúa của mình như vậy, nếu không phải là sự thực bất khả phủ bác mà nhiều học giả nghiên cứu Kinh Thánh đã đồng thuận. Nếu chúng ta đã đọc kỹ Tân Ước thì lời phê phán của Giám mục Spong ở trên quả thật không sai. Vậy chúng ta có nên tu tập theo những “đức tính” như thiển cận, đầy hận thù, và đạo đức giả của Giê-su hay không?

Thiền sư Nhất Hạnh dạy chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập nhưng không cho chúng ta biết những hành động và lời dạy nào của Chúa Giê-su mà chúng ta cần phải quán chiếu như là những mẫu mực để chúng ta tu tập ngoài những mấu mực tu tập trong Phật Giáo. Nếu Thiền sư Nhất Hạnh không nói thì tôi đành phải nói vậy, vì tôi đã đọc kỹ Tân Ước. Tôi chỉ nêu những hành động và lời dạy của Chúa Giê-su trong Tân Ước và sẽ không phê bình, xin để cho đọc giả tùy nghi “quán chiếu”.

¨ Hành động của Chúa Giê-su:

1. Matthew 15: 21-28:

“Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su “Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng.” Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: “Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta.” Nhưng Giê-Su trả lời: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.” Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: “Chúa ơi, hãy giúp tôi.” Nhưng Người trả lời: “Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ [nghĩa là những người phi- Do Thái] ăn thì thật là chẳng tốt tí nào.”

2. Matthiew 21, 18-21:

Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường. Người lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người nói: “Từ nay, không bao giờ mày ra trái nữa!” Cây vả chết khô ngay lập tức. Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: “Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?” Đức Giêsu trả lời: “Thầy bảo thật anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế.”

3. Matthew 8: 28 – 34:

Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo. Chúa phán “đi ra”, chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống biển chết chìm hết. Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và… xin Ngài (có nghĩa là đuổi) hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.

¨ Vài Lời Dạy Của Chúa Giê-su:

Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở với ta, là chống đối ta., và coi những người không tin và tuân phục Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:

Luke 19:27 : Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta.

Matthew 5: 22: Chúa Giê-su dạy: “Người nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống hỏa ngục” nhưng chính Giê- su lại đi nguyền rủa những người không chịu theo Giê-su:

Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.

Matthew 12: 34: Ôi thế hệ của những loài rắn độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?

Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?

Matthew 25: 41: “Rồi ta sẽ nói với những kẻ ở phía bên tay trái: “Hãy cút đi cho khuất mắt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, để đi vào ngọn lửa vĩnh hằng nhúm sẵn cho quỷ và những thiên thần của nó” [Tiếng Anh nguyên văn là, “Depart from me, you cursed, into the everlasting fire prepared for the devil and his angels” nhưng Kinh Thánh Tin Lành tiếng Việt đã dịch “devil and his angels” là “ma quỉ và những quỉ sứ (của) nó. TCN]

Matthew 23: 11-12: Các con càng khiêm tốn phục vụ người thì càng được tôn trọng… Ai tự đề cao sẽ bị hạ thấp, ai khiêm tốn hạ mình sẽ được nâng cao. NHƯNG…:

John 6:35: Ta là thức ăn của đời sống. (I am the bread of life)

John 8:12, 9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the light of the world)

John 10: 11, 14: Ta là người chăn chiên chí thiện (I am the good shepherd)

John 11:25: Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am the resurrection and the life)

John 14:6: Ta là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am the way, the truth, and the life)

John 10:36: Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God).

Tôi không phê bình những hành động và lời dạy trên của Giê-su, nhưng từ những hành động và lời dạy của Chúa Giê-su trong Tân Ước như trên, và không phải chỉ có vậy, các học giả đã nhận xét về tư cách con người của Giê-su như thế nào?

Trước hết, có lẽ chúng ta cần phải trích dẫn nhận định về Giê-su của Bertrand Russell, một thiên tài toán học và triết lý, đã được giải thưởng Nobel năm 1950:

“Xét về trí tuệ hay đức hạnh tôi không thể nào cho rằng Đức Ki-Tô cũng cao cả như vài người khác được biết trong lịch sử. Tôi nghĩ rằng, về trí tuệ hay đức hạnh, tôi phải đặt Đức Phật và Socrates lên trên Đức KiTô.”

[I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the matter of virtue Christ stands as high as some other people known to history – I think I should put Buddha and Socrates above him in those respects.]

Ngoài ra, như trên đã ghi, Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân Uớc, đã đưa ra thêm một nhận định khác về Giê-su như sau:

Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

(There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

Giê-su trong Thánh Kinh có xứng đáng với vinh dự mà người ta đã ban cho ông ta hay không? Bất hạnh thay, những người giảng đạo, mục sư, và giáo sĩ [và nay có cả Thiền sư] đã giảng cho chúng ta những câu chuyện với thành kiến một phía, nhấn mạnh và thổi phồng những điều mà họ thấy là tích cực và dẹp bỏ hoặc bỏ qua những điều tiêu cực. Nền học thuật về Thánh Kinh trong trăm năm nay không được những người thường biết đến. Trong khi đó thì, chúng ta thấy những mục sư và nhà truyền đạo trên TV chính trị đã khẳng định những điều vô nghĩa trong Thánh Kinh mà không bị ai đặt vấn đề trách nhiệm của họ. Tuy trên 90% gia đình ở Mỹ có một cuốn Thánh Kinh, thường là không đọc đến, hoặc nhiều nhất là làm nhẹ bớt hoặc lược bỏ khi muốn nói về Thánh Kinh. Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

[Does the Biblical Jesus merit the honor bestowed upon him? Unfortunately, preachers, ministers, and clergymen have given us biased, one-sided stories, emphasizing and inflating what they see as positive while subverting or ignoring the negative. Biblical scholarship of the last hundred years has not reached the common man. Instead, we see political ministers and televangelists making absurd biblical claims without anyone calling them accountable. Although over 90 percent of households in America own a Bible, it usually goes unread, or at best sanitized or bowdlerized to what people want it to say. Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

Chúa Giê-su có một giáo lý đặc thù nào không?

Một điểm khác là Chúa Giê-su có một giáo lý đặc thù nào không? Nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Công giáo, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách tổng quát:

Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu. Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ… Một điều rõ ràng: Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian. Trong cuốn “Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm”, Joseph McCabe (Một Linh Mục Công giáo. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lý tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.

[Daleiden, Joseph L., The Final Superstition, p. 174: There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus. Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions… But one thing is certain: Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions. In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.]

Theo Thiền sư Nhất Hạnh thì giáo lý Phật Giáo chưa đủ, chúng ta cần phải suy gẫm để hiểu giáo lý của Chúa Giê-su. Hiểu để làm gì không thấy Ngài nói.

Quan niệm Thiên Đường

Sau cùng, một sai lầm nghiêm trọng khác mà người ngoại đạo cũng như đa số tín đồ Ki tô Giáo thường vấp phải là quan niệm về một Nước Trời hay Nước Chúa (Kingdom of God) hay Nước Thiên Đường (Kingdom of Heaven) của Ki Tô Giáo. Ngày nay, quan niệm Thiên Đường là một nơi chốn trên các tầng trời, nơi Giê-su ngự và và các tín đồ Ki Tô hi vọng được hưởng nhan thánh Chúa sau khi chết, đã dứt khoát bị bác bỏ, không những bởi giới trí thức và khoa học mà còn bởi chính Giáo Hoàng John Paul II của Công giáo. Để hiểu rõ về quan niệm Nước Thiên Đàng hay Nước Chúa chúng ta cần trở lại lịch sử của người Do Thái.

Vào thời điểm Giê-su sinh ra đời thì Do Thái đang sống dưới ách thống trị khắc nghiệt của La Mã. Do đó, dân Do Thái, cũng như trong những thời kỳ bị chinh phục và bắt làm nô lệ trước, mong chờ và tin rằng Thần Gia-vê sẽ đoái thương đến họ, và một đấng cứu tinh thuộc dòng dõi vua David sẽ xuất hiện để giải phóng dân tộc họ. Và quan niệm Nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) nguyên thủy của người Do Thái rất đơn giản, đó chỉ là sự biến đổi thế giới thường thành một thế giới mà Thiên Chúa của họ sẽ trực tiếp cai quản công việc thế gian và do đó, khôi phục những phúc lợi của dân Do Thái, dân đã được Thiên Chúa chọn lựa (Joel Carmichael, The Birth of Christianity, Dorset Press, New York, 1989, p. 1: The Kingdom of God meant the transformation by God of the natural world into one in which God’s will would conduct human affairs directly and hence restore the fortunes of the Jews, the Chosen People).

Douglas Lockhart cũng viết như sau về sự rao giảng của Thánh Paul trong cuốn The Dark Side of God, trang 182: “Giê-su vẫn còn sống và sẵn sàng xuất hiện lúc mà Thượng đế làm phép lạ để khai mạc Nước Chúa ở trên trái đất. Đó là cái mà người Do Thái chờ đợi. Họ không chờ đợi Giê-su trở lại từ trên trời; họ chờ đợi Thượng đế hành động – chỉ khi đó Giê-su mới xuất hiện. Và Giê-su sẽ xuất hiện như là một con người bằng xương bằng thịt. Vì Nước Chúa là một nước vật chất, một vương quốc trên trái đất…” (Jesus was alive and ready to appear the moment God began to work the miracle of inaugurating the Kingdom of God on Earth. This is what they were waiting for. They were not waitin for Jesus to arrive back from heaven; they were waiting for God to make his move – only then would Jesus appear. And he would appear in the flesh. For the Kingdom of God was a physical kingdom, a kingdom on Earth..).

Người Do Thái tin tưởng rằng nơi Nước Trời hay Nước Thiên đàng (Kingdom of Heaven), hay Nước của Chúa (Kingdom of God) này, dân Do Thái sẽ sống sung sướng với sữa và mật tràn đầy, dưới sự quản trị và ân sủng trực tiếp của Thần Gia-vê., thần của dân tộc họ. “Nhưng Nước của Chúa này không xuất hiện, vẫn lại là người La Mã cai trị.. Sự mơ ước của người Do Thái về một Nước vật chất của Chúa trên trái đất đã không xảy ra, và vì vậy Giê-su, đấng cứu thế, đã phải cuốn gói lên trời để cho Thượng đế không bị mất mặt.”(Lockhart, Ibid., p. 158: The Kingdom of God did not appear, it was just the Romans as usual…The sectarian dream of a physical Kingdom of God on Earth did not materialize, and so Jesus the Messiah had to be packed off to heaven so that God would not lose face.)

Đó là tại sao Nước của Chúa ở dưới đất được mang lên Trời. Các tín đồ Công giáo Việt Nam, từ trên xuống dưới, không biết về lịch sử Do Thái, không đủ khả năng tự mình đọc và hiểu lấy Kinh Thánh, không hiểu ý nghĩa của nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) trong Kinh Thánh, nghe lời giảng hoang đường huyễn hoặc của giới giáo sĩ, nên coi đó là một nước thiên đường ở trên những tầng trời mà không hiểu rằng nước này chỉ là một nước mà Chúa Cha trị vì, cai quản các việc thế gian của dân Do Thái như một ông vua trên trần thế, theo niềm tin của người Do Thái thời bấy giờ, chứ chẳng dính dáng gì tới bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới. Thật vậy, trong cuốn A Time For Christian Candor, Giám Mục James A. Pike của giáo xứ California viết như sau, trang 109:

Quan niệm về thế giới của Giê-su là quan niệm trong thời đại của ông ta. Quan niệm về một Nước Chúa mà ông ta nhấn mạnh là quan niệm đã được đưa vào Do Thái giáo từ thế kỷ 5 trước thời đại thông thường này, dưới ảnh hưởng của Zoroaster (Một nhà tiên tri Ba-Tư trong thế kỷ 6 trước Tây Lịch. TCN). Ông ta (Giê-su) chịu ảnh hưởng giáo lý của dân Essenes, như là chúng ta càng ngày càng thấy đó là điểu hiển nhiên qua những bản dịch của những Cuộn Kinh Trong Biển Chết. Ông ta có một đầu óc giới hạn – điều này đúng đối với mọi người. Thí dụ, giống như các ông thầy tu Do Thái (Rabbis) cùng thời, ông ta cho rằng chính David viết tất cả những bài Thánh Vịnh cho nên ông ta đã chưng dẫn David như là tác giả bài Thánh Vịnh số 110 (thực ra là một bài đã được viết sau thời David) trong một cuộc tranh cãi với dân Pharisees. Và ông ta nghĩ, phù hợp với tâm cảnh về một ngày tận thế trong thời của ông ta, rằng ngày tận thế đã gần kề.

(Jesus’ world-view was that of his time. The concept of the Kingdom of God which he stressed was that introduced into Judaism in the fifth century B.C., under Zoroastrian influence. He was influenced by the teaching of the Essenes, as is growing more and more evident with the availability of translations of the Dead Sea Scrolls. He had a limited mind – as is true of every man. For example, like his fellow rabbis he thought that David wrote all the Psalms and hence he quotes as of Davidic authorship Psalm 110 (which in fact is of later date) in an argument with the Pharisees. And he thought, in accord with the apocalyptic temper of his day, that the end of the world is near.)

Như Kinh Thánh viết rõ, Giê-su, chịu ảnh hưởng của Cựu Ước, tin những lời giải thích của những bậc thông thái tiên tri Do Thái, rằng dân Do Thái tội lỗi nên bị Thiên Chúa của họ phạt, nên khuyên mọi người hãy thống hối, đúng như nhận định của giáo sư đại học Hermann Samuel Reimarus: “Tất cả những điều giảng đạo của Dê-su nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới”. Nhưng quan niệm về nước Chúa hay nước thiên đàng của Giê-su lại không phù hợp với quan niệm của người dân Do Thái, không đáp ứng được sự khao khát của dân Do Thái là được giải phóng khỏi ách nô lệ của La Mã, cho nên dân Do Thái mới không tin Giê-su là cứu tinh của dân tộc họ, khoan nói đến tin Giê-su là đấng cứu thế.

Tôi nghĩ rằng tôi đã viết quá nhiều xa chủ đề Tu Viện Bát Nhã, nhưng lại không thể không viết vì tôi nghĩ rằng không ít thì nhiều, một số những ý tưởng trong những lời giảng dạy giáo lý của Làng Mai cũng ảnh hưởng đến những quan niệm của đại khối Phật Giáo ở Việt Nam đối với Thiền sư Nhất Hạnh và Làng Mai. Chắc sẽ có người cho rằng tôi chống Thiền sư Nhất Hạnh và Làng Mai, và vì tôi là một “Phật tử cực đoan” nên đã phê bình tác phẩm của một Thiền sư đã nổi tiếng khắp thế giới. Không phải vậy. Thật ra thì tôi chẳng lấy gì làm vui khi viết lên những lời phê bình trên. Nhưng trong thời đại ngày nay, quốc gia đang tiến triển về mọi mặt, chúng ta không có quyền giam giữ người dân trong những điều sai lầm mê hoặc đã không còn giá trị. Để độc giả có thể thấy rõ vấn đề hơn, và để thấy rằng tôi không có nhắm vào cá nhân Thầy Nhất Hạnh, tôi xin giới thiệu bài phê bình của một người Mỹ một phần Chương 4 trong cuốn “Living Buddha, Living Christ” của Thiền sư Nhất Hạnh. Tôi xin để bài này trong phần Phụ Lục.

——————————————————————————–

Phụ Lục:

A Response to “Living Buddha, Living Christ” by Thich Nhat Hanh

Copyright 1999-2002 by John WorldPeace

(nguồn http://www.johnworldpeace.com/tnhanh4.html)

——————————————————————————–

CHAPTER FOUR: LIVING BUDDHA, LIVING CHRIST

A. His life is His Teaching

TNH: There is a science called Buddhology, the study of the life of the Buddha. As a historical person, the Buddha was born in Kapilavastu, near the border between India and Nepal, got married, had on child, left home, practiced many kinds of meditation, became enlightened, and shared the teaching until he died at the age of eighty. But there is also the Buddha within ourselves who transcends space and time. This is the living Buddha, the Buddha of the ultimate reality, the one who transcends all ideas and notions and is available to us at any time. The living Buddha was not born at Kapilavastu, nor did he pass away at Kushinagar.

Christology is the study of the life of Christ. When speaking about Christ, we also have to know whether we mean the historical Jesus or the living Jesus. The historical Jesus was born in Bethlehem, the son of a carpenter, traveled far form his homeland, became a teacher, and was crucified at the age of thirty-three. The living Jesus is the Son of God who was resurrected and who continues to live. In Christianity, you have to believe in the resurrection or you are not considered a Christian. I am afraid this criterion may discourage some people from looking into the life of Jesus. This is a pity, because we can appreciate Jesus Christ as both a historical door and an ultimate door.

John: The fact that Christians believe that Jesus was the only son of God, and was in fact God as part of the Trinity of Father, Son and Holy Spirit is what makes Christianity exclusive to all the other religions and prevents any acknowledgment that the other major religions of the world have any validity.

Christians only comprise one sixth of the world population and yet they believe that they have the only path to salvation. Christians on every level listen to what others have to say about their religion but never really listen because they believe they have the only true son of God.

This elitist viewpoint has been the cause of Christian genocide throughout the world. When Christianity came into contact with the indigenous people of America they had no reservations about destroying their civilizations and their religions because all religions other than Christianity were pagan. In fact, Christians believed it was their God given mandate to convert or kill off all other religious ideas on the planet.

For the Christian bureaucracy to acknowledge the validity of any other religion would have the effect of destroying Christianity. Without the literal Son of God, Christianity is just another religion among many.

TNH: When we look into and touch deeply the life and teaching of Jesus, we can penetrate the reality of God. Love, understanding, courage and acceptance are expressions of the life of Jesus.

John: Well this is what is talked about in Christianity but Love means love other Christians, understanding means understanding God through Christianity, and acceptance, true acceptance means the acceptance of other Christians.

Jesus was somewhat of an elitist himself because he uttered such words as “Do not give dogs what is holy’, and “Do not cast your pearls before swine.” These are not loving, understanding or accepting statements. They are statements that reflect an elitist attitude such that if you are not with us, you are against us. And it is my belief that these statements have been carried forward in the Christian doctrine and dogma which is not only not understanding, but unsympathetic and outwardly combative toward non-Christians.

It has always been interesting to me that one of the great Christian hymns is “Onward Christian Soldiers, marching as to war.” And so it has been. Christianity marching on other cultures and religions as if going to war.

And this attitude has not changed even today as evidenced by the Pope of the Catholic Church’s comments a few years ago that disparaged the Buddhist religion. Christians talk about love, understanding, forgiveness and acceptance but if you look carefully you will find that these terms are really restricted to other Christians and not to all the world.

TNH: God made himself known to us through Jesus Christ.

John: As he also made himself known through the Buddha, Mohammed, Baha’U'llah, Bodhidarma, Krishna, Joseph Smith and Moses. And in truth, as he makes himself known through every man woman and child.

TNH: With the Holy Spirit and the Kingdom of God within him, Jesus touched the people of his time. He talked with prostitutes and tax collectors, and had the courage to do whatever was needed to heal his society.

John: Today Christians talk to sinners in order to bring them to Jesus. Christians believe that all human beings need to be saved and only by embracing Jesus as the literal Son of God and the savior of the world can one go to heaven after death. Christians are not accepting of sinners. They see them as people to be saved. And when it is determined that a person cannot be saved then the Christians move on to the next potential convert.

Jesus was not really trying to heal Jewish society but was trying to attack the Jewish religious bureaucracy for its hypocrisy. And this is what got him killed. The Buddha did the same thing as he rejected the Hindu bureaucracy and its hypocrisy. It was not a matter of healing society but was a matter of awakening people to their own inner spirituality which was being manipulated by the religious bureaucracy.

TNH: As the child of Mary and Joseph, Jesus is the Son of Woman and Man.

John: With all due respect, Brother Hanh, Joseph was Jesus’s father in name only. One of the foundations of Christianity is that Jesus was the literal Son of God and the virgin Mary. Mary was a virgin when she became pregnant with Jesus. This is again why Christians give only polite lip service to other religions. Christians belief that Jesus is the only literal Son of God. No other religion can make that claim and so all other religions are inferior to Christianity; so believe Christians.

TNH: As someone animated by the energy of the Holy Spirit, he is the Son of God.

John: No, Brother Hanh, Christians will tell you that he was the literal Son of God. We are all animated by the Holy Spirit if you believe that we are all children of God. But according to Christians there has only been one literal Son of God and that was Jesus.

TNH: The fact that Jesus is both the Son of Man and the Son of God is not difficult for Buddhist to accept.

John: Brother Hanh, I submit that it is impossible for any Buddhist to accept that Jesus was the literal Son of God. If a Buddhist were to accept this, that Buddhist would surely renounce Buddhism and embrace Christianity.
TNH: We can see the nature of nonduality in God the Son and God the Father, because without God the Father within him, the Son could never be.

John: Brother Hanh, my truth is that we are all sons and daughters of God as was Jesus. But from a scientific biological perspective in this earthly reality, Christians belief that the biological father of Jesus was the literal anthropomorphic one God himself. Son of God is not a metaphor for Christians but a literal fact.

TNH: But in Christianity, Jesus is usually seen as the only Son of God.

John: Jesus is not usually seen as the only Son of God but always seen as the literal Son of God and if you do not believe this, then you cannot be a Christian.

I notice Brother Hanh that you skip over this very controversial issue. You skip over the one obstacle that forever prevents any true common ground of understanding between Christians and Buddhists or any other religion. Brother Hanh, your refuse to openly state that Buddhist would never embrace Jesus as the literal biological Son of God.

TNH: I think it is important to look deeply into every act and every teaching of Jesus during his lifetime, and to use this as a model for our own practice.

John: Well again Brother Hanh, I do not think you want to make this kind of statement. You see Jesus when he came to the Temple in Jerusalem became highly upset at the commerce going on within the Temple. He became so upset that the made a whip and began to turn over tables and whip the vendors. I do not think that you advocate such extreme behavior.
Further you can see here the precedent that Jesus set for later Christians to deal accordingly with non-Christians and their pagan religions.
And you can also see why the Jewish bureaucracy was instrumental in having Jesus crucified. Jesus was bad for business and if left unchecked would have overturned the entire Jewish religious establishment. The way of this world is the way of materialism and money. And when spiritual philosophy interferes with making money then it is the spiritually that must be subordinated. This is the reality that you sir do not understand in your position as a monk.

I truly respect you Brother Hanh, but you are attempting to write about Christianity which you do not fully understand and you do not bring to your discussion a personal knowledge of how the vast majority of human beings make a living in the world.

This is why I feel that I must continue to practice law. If I can maintain my spirituality while working in the most combative profession on the planet, then I can be an example to others. They cannot discount what I have to say because I do live in the real world, in their world.

TNH: Jesus lived exactly as he taught, so studying the life of Jesus is crucial to understanding his teaching.
John: No Brother Hanh, Jesus did not live exactly as he taught. His admonition to turn the other cheek did not apply to his actions in the Temple. There are many such examples in the gospels of the New Testament in the Christian Bible.

For more examples go to The Saying of Jesus

TNH: For me, the life of Jesus is His most important teaching, more important that even faith in the resurrection or faith in eternity.

John: Well now Brother Hanh, I see how you diplomatically get around the issues of Jesus as the literal Son of God, born of the virgin Mary and dying for the sins of man, and rising from the dead; in essence the guts of Christianity.

You sir, avoid this subject and look at Jesus outside this role of the true Son of God. You avoid saying that you do not believe in Jesus as the savior of the world. And I expect that you will now in the rest of your book compare Jesus to Buddha without referring to the guts of the Christian doctrine and dogma. I commend you the effort.

But in the end, when your book is finished, the question will still be asked by your Christian audience, “Do you believe in Jesus as the literal Son of God who died for your sins?” If you answer yes, then you are a Christian and must remove your Buddhist robes. If you answer no, you will be thanked for your interesting lecture./.

BÁT NHÃ, TRẦN CHUNG NGỌC VÀ THÍCH NHẤT HẠNH

Tháng Mười 25, 2009 bởi NÓI THẬT

Tôi đợi Giáo sư Trần Chung Ngọc rất lâu mới thấy ông lên tiếng. Tuy có một số điểm không đồng tình với ông, tôi vẫn thấy bài viết này có thể giúp ích rất nhiều cho những ai quan tâm đến Bát Nhã và tìm kiếm một lời giải đáp thỏa đáng.

VÀI Ý KIẾN XUNG QUANH VỤ TU VIỆN BÁT NHÃ

Trần Chung Ngọc (22 tháng 10 năm 2009)

LTS (SÁCH HIẾM): Thời gian những ngày cuối tháng 9 đến nay, tin tức về những chuyện đau lòng xảy ra ở Tu viện Bát Nhã và những ý kiến, những xúc cảm về một vài khía cạnh của vấn đề đã được các báo đài loan tải khắp nơi. Có nhiều câu hỏi đã được đặt ra hơn là câu trả lời. Dường như tất cả các bài viết hoặc là tường thuật lại những việc bất bình, những chuyện thiếu văn hóa, thiếu nhân tâm, xảy ra ở một nơi lẽ ra tiêu biểu cho nhân từ, đạo đức, hoặc là đặt những câu hỏi (ngầm tự trả lời) đều chỉ nhắm vào phía chính quyền và mong có một giải đáp thỏa đáng.

Quan sát các phản ứng của dư luận, có thể nói rằng kẻ đắc thắng trong việc này là bên phía “chống cộng cho Chúa”. Đó là cơ hội tốt để có cơ hội “liên tôn”, và “đoàn kết” mạnh hơn (để làm gì thì ai cũng đoán biết), và CG “bất chiến tự nhiên thành,” ít nhất là về mặt tâm lý.

Tuy rằng sự việc chưa đến nỗi xảy ra án mạng, nhưng những hình ảnh tồi tệ xảy ra ở một nơi mà lẽ ra “hiền như Bụt” đã làm cho ai cũng nghĩ rằng sự can thiệp của chính quyền cần phải xảy ra ngay lập tức . Ở những nước tuyệt đối tôn trọng tự do tôn giáo như ở Mỹ, có lúc chính quyền cũng phải dùng đến xe tăng để can thiệp khi có việc liên hệ đến án mạng tập thể, như việc chính quyền Mỹ đã dùng đến xe tăng dẹp tan giáo phái của David Koresh ở Waco, Texas.

Có hai nơi mà người ta trông đợi một phản ứng đối với vấn đề ở Bát Nhã từ một năm qua là Thiền Sư Nhất Hạnh, và chính quyền. Thiền sư thì ngồi yên như núi, khá lâu. Chính quyền đổ cho là nội bộ của Phật giáo, nghe cũng không xuôi lắm. Tuy nhiên, việc chính quyền không can thiệp đã làm cho người ta nghi ngờ hoặc quả quyết một cách bất lợi. Tất cả những ý nghĩ này lập lại dư thừa vì có quá nhiều người đã nói bằng nhiều cách rồi.

Nhưng chẳng lẽ cứ tiếp tục đào bới vào chỗ “không lối thoát” đó mãi thì làm sao tìm được quang lộ. Ông bà ta thường nói “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, người đạo Chúa cũng nói “lỗi tại tôi” (nhưng có thực hành hay không là chuyện khác.) Vả chăng, đi tìm những điều bí ẩn đằng sau những việc khó hiểu là một công việc rất cần thiết.

Đó là lý do Giáo sư Trần Chung Ngọc ra sức thu thập dữ kiện trong thời gian qua để nghiên cứu tìm hiểu vấn đề. Chẳng những ông đọc hết các tin tức liên quan hoặc ảnh hưởng xa gần đến sự việc, mà lại còn tham khảo cả những “phần mềm” vô ảnh vô tướng nào đã làm cho vấn đề trở nên tắc nghẽn như thế.

Trên đời này, cái khó là tự nhận lỗi mình. Bài nghiên cứu thẳng thắn sau đây của Giáo sư Trần Chung Ngọc chắc chắn sẽ làm một số không ít người không vui. Nhưng thiết nghĩ, đức Phật là gương mẫu cho sự khiêm nhường, thì những người tự nhận là môn đệ của Ngài, là trưởng tử Như Lai,… chẳng lẽ không thể khiêm nhường một chút để phân giải thiệt hơn, và nhận chân khuyết điểm hay sao? Trong việc đi tìm nguyên nhân của bi kịch Bát Nhã, Giáo sư Trần Chung Ngọc đã thấy được một số điều thú vị. Sachhiem.net cảm thấy rất cần thiết để tường trình cùng bạn đọc những khám phá này. (SH)

Vài Lời Nói Đầu:

Vụ Tu Viện Bát Nhã xảy ra không chỉ mới đây mà đã âm ỉ từ hơn một năm nay, lên tới cao điểm vào ngày 27 tháng 9 năm 2009, ngày các Tăng Ni tu “Pháp môn Làng Mai” ở Tu Viện bị cưỡng bách rời khỏi tu viện. Vì ở Mỹ, không biết rõ nội vụ, tôi không có cách nào khác là tìm hiểu vụ việc qua những thông tin trên Internet. Lẽ dĩ nhiên, những thông tin trên Internet không đầy đủ vì có những uẩn khúc trong nội vụ bất thành văn. Sau khi thu thập khá nhiều thông tin, khoảng trên 100 trang giấy khổ 8.5” x 11”, và sau khi tổng hợp, phân tích những thông tin, tôi thấy vụ Tu Viện Bát Nhã là một biến cố không đơn giản như chúng ta tưởng. Đúng như phóng viên của hãng truyền thông Reuters ở Việt Nam, John Ruwitch, đã viết ngày 5 tháng 10, 2009, trong bài: Vietnam’s not-so-simple eviction of Buddhist monks and nuns:

Cách đây khoảng 1 tuần một đám đông hỗn độn được hậu thuẫn của chính quyền đã đuổi gần 400 tăng ni ra khỏi một tu viện ở miền Trung Việt Nam, chấm dứt một cuộc dậm chân tại chỗ khó chịu với nhiều nguyên nhân phức tạp. Sự việc rắc rối trên đã đặt nghi vấn về sự cam kết của Đảng đương quyền Cộng sản về tiến bộ về mặt tự do tôn giáo, nhưng diễn biến ở Tu viện Bát Nhã phức tạp hơn nhiều, không đơn giản chỉ là chuyện một “nhà nước độc tài đàn áp những người tu theo Phật Giáo”.
[A government-backed mob in Vietnamabout aweek ago booted nearly 400 Buddhist monks and nuns out of a monastery in the centre of the country, bringing an apparent end to an uglystandoffwith complicated origins. The incident has raised questions about the ruling Communist Party’s commitment to progress on religious freedom, but the Bat Nha Monastery narrative is much more complex thansimply an “authoritarian government cracks down on the faithful” story.]

Tôi cũng đọc tác giả Minh Tân từ www.buddhismtoday.com/viet/pgvn/vande/BatNha_ cauhoi.htm trong bài “Vụ Tu viện Bát Nhã: Những câu hỏi không biết trả lời sao!” trong đó tác giả viết:

Xung quanh câu chuyện Tăng Ni tu tập theo pháp môn Làng Mai của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh có được tiếp tục tu học tại Tu viện Bát Nhã hay không đã đặt ra hàng loạt câu hỏi mà một người tu Phật chân chính, hay một người Việt có văn hóa, có lương tri, có tình người không biết trả lời sao đây.
và đặt 5 câu hỏi, câu hỏi thứ 5 như sau:

5. Nếu đã “hết duyên” ở Bát Nhã, các Tăng Ni trẻ tu theo pháp môn Làng Mai có nhất thiết cứ phải bám trụ tới cùng không? Trách nhiệm của Làng Mai đến đâu trong việc “hết duyên” đó, nhất là sau những chuyện không được khế cơ lắm như những “Lá thư Làng Mai”, “Giáo hội Làng Mai tại VN”…
Tôi nghĩ rằng, chúng ta cũng nên tìm hiểu vụ Tu Viện Bát Nhã phức tạp như thế nào và Trách nhiệm của Làng Mai đến đâu trong việc “hết duyên” đó, và tại sao Minh Tân lại cho những “Lá thư Làng Mai”, “Giáo hội Làng Mai tại VN là không được khế cơ. Khế cơ, theo định nghĩa của Tu Viện Lộc Uyển là:

Khế Cơ: Pháp mà ta nói, để có công năng phát khởi trí tuệ và từ bi, phải đáp ứng nhu cầu và hoàn cảnh của con người và xã hội. Lời pháp ấy phải phù hợp với căn bản đạo Bụt, không chống lại với giáo lý vô thường, vô ngã và niết bàn, đồng thời phải thực dụng, phù hợp với hoàn cảnh tâm lý và xã hội. Có tám vạn bốn nghìn pháp môn khác nhau để đi vào đạo Bụt, nhưng để đạo Bụt còn tiếp tục như một nguồn trí tuệ linh động, ta còn phải có thêm nhiều pháp môn nữa.

[http://tuvienlocuyen.org/sinh-hoat/sinh-hoat-tu-vien-loc-uyen/cuoi-tuan-cua-tien-hien-khe-co.ics]

Còn trang nhà http://www.daophat.com/ giảng: “Khế Cơ là giáo pháp hợp với mọi căn cơ, trình độ của mỗi người trong mọi thời đại.”

Theo tôi hiểu thì Khế Cơ là tùy duyên mà giảng Giáo Pháp hợp với căn cơ, trình độ của thính chúng trong những trường hợp khác nhau nhưng không ra ngoài Khế Lý, nghĩa là Chân Giáo Pháp của Đức Phật.

Vụ Tu Viện Bát Nhã có ảnh hưởng đến mọi mặt của Việt Nam: chính trị, tôn giáo, xã hội v.v…, do đó một Phật tử đã có đôi chút hiểu biết về Phật Giáo như tôi, và vẫn nặng lòng với tương lai quê hương đất nước nói chung, Phật giáo nói riêng, thì không thể không quan tâm và tìm hiểu. Vậy thì chúng ta hãy bắt tay vào việc phân tích vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã.

I. Vấn Đề Các Danh Từ

Bát Nhã, tiếng Sanskrit là Prajñā, tiếng Pali là Paññā, thường rất khó dịch ra tiếng Việt sao cho gọn ghẽ. Danh từ thông dụng để dịch Prajñā là “Trí Tuệ Bát Nhã”, nghĩa là, theo Phật Giáo, trí tuệ thực chứng trực tiếp Tứ Diệu Đế, cùng Lý Vô Thường, Lý Duyên Khởi, Lý Vô Ngã, và Tính Không của Vạn Pháp. Và như vậy, “Trí Tuệ Bát Nhã” sẽ giúp cho hành giả dập tắt được những phiền não để đi đến giải thoát.

Pháp môn là phương pháp tu theo Phật Pháp để mở cánh cửa giải thoát. Đức Phật đã chẳng nói: “Cũng như biển cả chỉ có một vị, vị mặn, đạo của Ta cũng chỉ có một vị, vị giải thoát”. Nhưng Đức Phật biết rõ là chúng sinh thì vô lượng nhưng căn trí thì bất đồng, cho nên giáo Pháp của Người rất rộng, từ thấp đến cao, từ rõ ràng đơn giản đến huyền nghĩa v…v…để cho mọi người ở mọi trình độ có thể tu tập theo một Pháp Môn hợp với căn trí của mình. Vì vậy Phật Giáo có nhiều Tông Phái chính, tu theo những giáo pháp khác nhau của Đức Phật. Vào Internet tìm hiểu về Pháp Môn, tôi thấy trong http://www.lotuspro.net/chonphap.htm có bài “Chọn Pháp Môn Trong Thời Đại Văn Minh” trong đó có đoạn sau đây:

Xem lại pháp môn tu của Phật, được biết đến hiện nay gồm có mười pháp môn tu theo mười tông phái: 1) Câu Xá Tông, 2) Thành Thật Tông, 3) Tam Luận Tông còn gọi là Tánh Không Tông,4) Duy Thức Tông còn gọi là Pháp Tướng Tông, 5) Pháp Hoa Tông còn gọi là Thiên Thai Tông 6) Hoa Nghiêm Tông còn gọi là Hiền Thủ Tông 7) Luật Tông, 8) Thiền Tông, 9) Tịnh Độ Tông 10) Mật Tông còn gọi là Chơn Ngôn Tông.

Các pháp môn của những tông này hẳn nhiên là những con đường chắc chắn tiến tới giải thoát.

Tăng Ni tu ở Tu Viện Bát Nhã, lẽ dĩ nhiên, là hi vọng có thể đạt được “Trí Tuệ Bát Nhã” và Pháp Môn mà quý vị Tăng Ni này tu theo được biết là “Pháp Môn Làng Mai”. Trước hết, tôi nghĩ “Pháp môn Làng Mai” là Pháp môn mà chúng ta cần tìm hiểu rõ ràng trước khi bàn đến chuyện ở Tu Viện Bát Nhã. Nhưng tôi đã phải bỏ cuộc vì tìm kiếm để biết “Pháp môn Làng Mai” là Pháp môn như thế nào mà không thành công, vì không thấy ở đâu cho tôi thấy một định nghĩa rõ rệt thế nào là “Pháp môn Làng Mai”. Vào trang nhà Phương Bối: Trang nhà các tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai tại Việt Nam, có một nối kết [link] vào “Pháp Môn Làng Mai” như trên, nhưng click vào đó, hi vọng có thể có một quan niệm rõ rệt về “Pháp môn Làng Mai”, thì không thấy hiện ra gì liên hệ đến Pháp Môn Làng Mai cả như mình mong muốn. Nhưng theo ý kiến của Tu Viện Lộc Uyển trong định nghĩa về “Khế Cơ” ở trên: “Có tám vạn bốn nghìn pháp môn khác nhau để đi vào đạo Bụt, nhưng để đạo Bụt còn tiếp tục như một nguồn trí tuệ linh động, ta còn phải có thêm nhiều pháp môn nữa” thì chúng ta có thể hiểu “Pháp Môn Làng Mai” là Pháp Môn thứ “Tám vạn bốn nghìn lẻ một”

Quả thật tôi cảm thấy cụm từ “Pháp môn Làng Mai” đối với tôi nó thế nào ý. Bởi vì thường thường, kèm theo Pháp Môn là một phương pháp tu tập, thí dụ như Pháp Môn Niệm Phật, Pháp Môn Lạy Phật, Pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông, Pháp môn Thiền quán, Pháp môn Bất Nhị v..v…. Nhưng “Làng Mai” là một địa danh cho nên cụm từ “Pháp môn Làng Mai” nghe thật không ổn. Đúng ra phải là “Pháp Môn theo Tông Làng Mai” hay “Pháp Môn theo Tông Tiếp Hiện”, nghĩa là Tông thứ 11 ngoài 10 Tông trên. Lẽ dĩ nhiên tôi hiểu “Pháp môn Làng Mai” là những phương pháp tu tập rao giảng bởi tập thể Tăng Ni ở Làng Mai. Tuy nhiên hiểu là một chuyện mà chính danh trên mặt văn tự lại là chuyện khác.

Tôi đọc trên trang nhà:

http://www.viengiac.de/vn/index.php?option=com_content&task=view&id=259&Itemid=64

thấy bài “Các pháp môn là phương tiện” của Thích Kiến Tánh, ngày 04, tháng 01, năm 2007, trong đó có vài đoạn hay hay:

Như chúng ta đã biết các pháp môn Đức Thế Tôn giả lập để đối trị tâm bịnh chúng sanh chỉ là phương tiện. Bởi thế chư Phật và chư vị Tổ Sư đều tu Thiền, Tịnh, Mật… mà chứng ngộ, mà không bao giờ chấp pháp môn của mình tu, hoặc tự xưng mình ngộ. ..

Trong thời đại mới trăm hoa đua nở, đã có nhiều tông phái xuất hiện khá hấp dẫn tại Việt Nam. Từ đó đã sanh ra sự tranh luận đúng sai. Vì ai cũng muốn mình trở thành giáo chủ, lãnh tụ ở một chân trời ngất ngưởng, để chúng sanh suy tôn, sùng tín, trở thành kinh tế thị trường tôn giáo nhiều màu sắc.

Tôi nghĩ rằng “Pháp môn Làng Mai” phải phản ánh giáo pháp của Làng Mai, nghĩa là những điều mà Làng Mai giảng dạy. Theo tôi biết, Thầy Nhất Hạnh thường dạy về những phương pháp tu tập như “Tỉnh Thức”, “Chánh Niệm”, “Hiểu và Thương”, “Thở vào, thở ra” v… v… nhưng những phương pháp này là những phương pháp tu tập chung cho Phật Giáo, đâu có phải là của riêng của Làng Mai. Vậy giáo pháp của Làng Mai phải có gì đặc biệt lắm mới gọi là “Pháp môn Làng Mai”. Thật là đáng tiếc, tôi chỉ đọc sách của Thiền Sư Nhất Hạnh chứ chưa có cơ duyên để nghe trực tiếp giáo pháp của Làng Mai do Thiền Sư Nhất Hạnh hay các Giáo Thọ của Làng Mai giảng dạy. Nhưng tôi tin nội dung những cuốn sách của Thiền Sư Nhất Hạnh và những hoạt động tôn giáo của Làng Mai và các cơ sở tôn giáo ngoại vi của Làng Mai chắc chắn chứa đựng những giáo pháp của Làng Mai. Tôi sẽ đi sâu vào vấn đề này trong phần cuối.

Nhưng tại sao lại xảy ra vụ việc ở Tu Viện Bát Nhã, nơi mà các Tăng Ni ở Tu Viện Bát Nhã tu tập “Tỉnh thức”, “Chánh Niệm”, “Hiểu và Thương”?

Sau khi đọc kỹ những tài liệu của Làng Mai, của Phương Bối, và của một số diễn đàn khác, tôi thấy rằng các Tăng Ni trẻ, tuổi từ 15 đến 35, tu tập “Pháp môn Làng Mai” ở Tu Viện Bát Nhã là nạn nhân của cả hai phía:

1. Những Tăng Ni trẻ này, rất hấp dẫn trước những phương pháp tu tập của Thầy Nhất Hạnh cho nên đã phát triển Tâm Đạo và đến tu ở Tu Viện Bát Nhã. Ai cũng biết Thầy Nhất Hạnh có sức thu hút mạnh qua những phương pháp giảng đạo đơn giản, dễ hiểu và hợp với thời đại. Nhưng có thể họ không biết rằng, chính một số hành động, ý tưởng ngoài “Phật pháp” của Làng Mai từ những năm trước đã là một trong những nguyên nhân đưa đến vụ Tu Viện Bát Nhã.

Họ, các Tăng Ni trẻ, ở trong tình trạng “quít làm cam chịu” mà không tự biết vì chỉ biết có một điều: hết lòng tu tập. Họ thực lòng tu tập, không nghĩ đến bối cảnh xã hội, chính trị trong một đất nước mà chính quyền hiện nay rất nhạy cảm về chính trị, về diễn biến hòa bình, và trước những sức ép về nhân quyền và dân chủ.

2. Họ là nạn nhân của một chính sách luôn luôn nghi ngờ, của chính quyền Trung Ương, Ban Tôn giáo Chính Phủ cũng như UBND tỉnh Lâm Đồng, và là nạn nhân của một số viên chức chính quyền địa phương và của thầy Đức Nghi, bổn sư của họ và một số thầy Đồng, đệ tử của thầy Đức Nghi, và những người không phải là Phật tử, đạo đức thấp kém, không có mấy hiểu biết về truyền thống văn hóa Việt Nam, những người đã được thầy Đồng Hạnh, chủ hộ chùa Bát Nhã sách động đến phá phách các công trình của Thiền sư Nhất Hạnh xây trong Tu Viện Bát Nhã, bạo hành đối với các Tăng Ni.

Dù sao thì vụ Tu Viện Bát Nhã cũng đã làm hại không ít đến uy tín của chính quyền và Ban Trị Sự THPG Lâm Đồng nói riêng, Chính quyền Trung Ương và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam nói chung. Đọc những ý kiến trên Internet về vụ Tu Viện Bát Nhã tôi thấy những ý kiến hoặc là thế này hoặc là thế kia, ít có một phân tích tổng hợp để tìm ra những nguyên nhân. Những luận cứ của Lữ Giang trong bài “Một Cuộc Đấu Trí” và “Việc đến đã đến” và của Đỗ Thái Nhiên trong bài “Bi Kịch Bát Nhã Làng Mai” chẳng qua chỉ là những suy diễn qua những hoang tưởng của chính mình, phản ánh những thành kiến của họ đối với chính quyền, và đối với Thiền sư Nhất Hạnh.

II. Nội Vụ Bát Nhã:

Bây giờ chúng ta hãy đi vào việc phân tích vụ việc Tu Viện Bát Nhã. Trước hết là về Tu Viện Bát Nhã. Theo trang nhà Phuongboi.org, Trang nhà các tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai tại Việt Nam, trong bài “Vài Nét Về Tu Viện Bát Nhã” thì:

Tu viện Bát Nhã (xã Damb’ri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng) được thành lập năm 1995 bởi Thượng tọa Thích Đức Nghi, niên trưởng của Tổ đình An Lạc (TX Bảo Lộc)… Lúc mới khởi đầu, chính điện của tu viện là một ngôi nhà nhỏ, sau đó dùng làm nhà trẻ và trường mẫu giáo cho con em các đồng bào nghèo trong vùng….

Tháng 2 năm 2005 – trong chuyến đi Việt Nam đầu tiên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Thượng tọa Thích Đức Nghi đã cúng dường Tu viện Bát Nhã cho Thiền sư Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai để xây dựng Bát Nhã thành một tăng thân và một trung tâm tu học theo pháp môn Làng Mai tại Việt Nam…

Từ năm 2005, Phật tử trong và ngoài nước đã ủng hộ tài sức để xây dựng thêm cơ sở mới và sửa chữa các cơ sở cũ tại Tu viện Bát Nhã để làm phương tiện sinh hoạt và tu học cho tăng thân. Hiện tại có khoảng 400 thầy, sư cô và cư sĩ đang tu học tại đây.

Có một điều không ổn trong đoạn trên. Đó là: Thượng tọa Thích Đức Nghi đã cúng dường Tu viện Bát Nhã cho Thiền sư Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai. Thường thì chúng ta biết trong Phật Giáo có nghi thức “Cúng Dường Tam Bảo”: Cúng dường Phật Bảo, Cúng dường Pháp Bảo, và Cúng dường Tăng Bảo. Thánh Tăng ngày xưa chỉ lo tu học kinh kệ trong Chùa, do vậy người Phật tử thường cúng dường chư Tăng gồm có: Y phục, thức ăn, giường và vật trải giường nằm, thuốc thang. Bốn thứ đó gọi là Tứ Sự Cúng Dường. Ngày nay Phật tử có thể dâng cúng chư Tăng, Ni những phương tiện để phục vụ cho sự hành đạo được dễ dàng hơn. Nếu sự cúng dường không nằm trong những lãnh vực này thì đó là hiến tặng hay hiến cúng. Tu viện Bát Nhã nằm trên đất của Thị Xã Lâm Đồng và nằm trong luật đất đai của Nhà Nước. Mặt khác, theo truyền thống Việt Nam thì “Chùa Làng, Phong cảnh Bụt”, Chùa là của làng, của dân, không phải là của riêng của vị trụ trì, dù vị này đã có công sáng lập. Lý do rất đơn giản, vị trụ trì có thể nay còn mai không còn nữa, nhưng Chùa thì vẫn còn đó để cho dân chúng trong vùng, từ đời này đến đời khác. Hơn nữa, chuyện hiến cúng một Tu Viện gồm tài sản và đất đai cho một cá nhân hay một tổ chức ở nước ngoài là không thể nào hợp lý.

Gần đây, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biều: Không có tài sản đất đai nào của Vatican ở Việt Nam. Làng Mai và Tăng Thân Làng Mai nhận sự cúng dường của TT Đức Nghi, cho đó là tài sản của Thiền sư và Tăng thân Làng Mai, do đó đã bỏ rất nhiều tịnh tài vào việc xây dựng Tu Viện Bát Nhã, nhưng vẫn để TT Đức Nghi là Viện chủ và Trụ trì là thầy Thích Đồng Hạnh, với tất cả quyền hạn của Viện Chủ và Trụ trì, và Làng Mai chỉ lo về việc tu học.

Mâu thuẫn chính của nội bộ Bát Nhã là thầy Đức Nghi không có quyền hạn như Viện chủ ở Việt Nam, quyết định tất cả. Theo cách của Làng Mai, tập thể giáo thọ quyết định. Đây là sự mâu thuẫn về cách quản lý và quyền lực quản lý. Hai cơ chế của thầy Nhất Hạnh và thầy Đức Nghi hoàn toàn khác nhau nên dẫn đến mâu thuẫn.

Cũng theo trang nhà Phương Bối thì:

Từ tháng 5 năm 2005 cho đến tháng 6 năm 2008, TT Đức Nghi đã mời và bảo lãnh các thầy sư cô giáo thọ đã từng tu tập tại Làng Mai (trong đó có các vị gốc Việt mang quốc tịch nước ngoài) về Bát Nhã để chia sẻ pháp môn và đào tạo các vị xuất gia trẻ tu học theo mô thức Làng Mai. Thượng Tọa cũng đề cử một đệ tử là thầy Thích Đồng Hạnh làm phụ tá để sinh hoạt và tu học chung với tăng thân xóm Rừng Phương Bối và để giúp về việc hành chánh…

Tháng 6 năm 2008, TT Đức Nghi đổi ý, không bảo lãnh các thầy sư cô giáo thọ có quốc tịch nước ngoài và không muốn Tu viện Bát Nhã tu tập theo pháp môn Làng Mai nữa. Thượng Tọa muốn tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai phải rời Bát Nhã.

Từ tháng 6 năm 2008 cho đến nay (tháng 6 năm 2009), tăng thân ba xóm Rừng Phương Bối, Bếp Lửa Hồng và Mây Đầu Núi vẫn tiếp tục tu học tại Tu viện Bát Nhã.

Tại sao Thượng Tọa Đức Nghi lại đổi ý, và tại sao các Tăng Ni trẻ tu tại Tu Viện Bát Nhã lại không tôn trọng ý muốn của Viện Chủ Đức Nghi mà cứ ở trong đó cả năm sau. Về chuyện TT Đức Nghi đổi ý, chúng ta có thể đọc một văn kiện của chính TT Đức Nghi:

Ngày 1 tháng 9 năm 2008, Thượng tọa Đức Nghi có gửi một Bản Kiến Nghị tới Hội đồng Trị sự Giáo Hội Phật Giáo VN, Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Lâm Đồng và ban Đại diện Phật Giáo Thị xã Bào Lộc, và cũng gửi cho cả Làng Mai, vì Thiền sư Nhất Hạnh có viết thư hồi đáp, trong đó vài đoạn như sau có thể cho chúng ta thấy phần nào lý do đổi ý của TT Đức Nghi:

“ Cách đây trên 3 năm, con đã nhiệt tình bảo lãnh để Làng Mai tu tập tại Tu viện Bát Nhã. Được Giáo hội Trung ương cho phép, văn thư số 212 ngày 22-5-2006, Ban Tôn Giáo Chính phủ cho phép, văn thư số 525 ngày 7-7-2006.
Ban đầu con cứ tưởng Làng Mai tôn trọng Giáo Hội Phật Giáo VN và Nghị định 22 của Ban Tôn giáo Chính Phủ, cứ tưởng tôn trọng lời đề nghị của con tại Làng Mai 2006, lời đề nghị của con tại chùa Từ Hiếu năm 2007, lời đề nghị của con tại Tu viện Bát Nhã năm 2008.

Cả 3 lần trực tiếp gặp Sư Ông Làng Mai để nói lên thực trạng của Tu viện Bát Nhã: Giáo Hội Làng mai chưa được phép sinh hoạt tại Việt Nam, con chỉ đứng đơn xin tu theo pháp môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã. Nên mọi việc xẩy ra con chịu trách nhiệm trước Giáo Hội và Nhà Nước. Con muốn tương lai Tu viện Bát Nhã sẽ lên tới 1.000 tu sinh, nhưng những lời đề nghị của con lên Sư Ông và quý vị giáo thọ không ai lắng nghe cả. Đã 3 năm qua, con đã hơn 10 lần bị kiểm điểm vì vi phạm Hiến chương Giáo Hội và Nghị định 22 của Ban Tôn Giáo Chính Phủ.

…Kề từ hôm nay, ngày 01 tháng 09 năm 2008, con xin rút lại tất cả những văn thư xin phép cho Làng Mai tu tập. Con không bảo lãnh, không chịu trách nhiệm mọi việc sẽ xẩy ra của Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã trong thời gian tới. ”

Phải chăng đây chỉ là tất cả những lý do TT Đức Nghị đưa ra hay còn những lý do nào khác, như “kinh tế” chẳng hạn, thí dụ như, theo một nguồn tin, Thầy Đức Nghi muốn biến Tu Viện Bát Nhã thành một trung tâm du lịch nhưng Thầy Nhất Hạnh không đồng ý, hoặc có những mâu thuẫn không giải quyết được vì có sự bất đồng ý kiến giữa Làng Mai và TT Đức Nghi cùng chính quyền địa phương, hay còn những lý do chính trị nữa.

Còn tại sao các Tăng Ni tu tập theo Pháp Môn Làng Mai lại cứ ở lại Tu Viện cả năm sau. Phải chăng các Tăng Ni trẻ cho rằng, Tu Viện Bát Nhã là tài sản của Làng Mai, và họ tu theo “Pháp môn Làng Mai” thì tất nhiên tu ở đó không có vấn đề, mà quên rằng TT Đức Nghi là vị Viện chủ Tu Viện với đầy đủ quyền hạn của một vị Viện chủ, dù Tu Viện Bát Nhã phần lớn là do Làng Mai ở Pháp xây dựng lên. Hay phải chăng các Tăng Ni này đã tuân theo một huấn thị từ Làng Mai: Cứ “Ngồi Yên Như Núi”? “Bát phong xuy bất động”.

Những điều trên có phải đã là những yếu tố đã góp phần tạo thành vụ Tu Viện Bát Nhã hay không? Vì vậy Minh Tân mới đặt câu hỏi:

Nếu đã “hết duyên” ở Bát Nhã, các Tăng Ni trẻ tu theo pháp môn Làng Mai có nhất thiết cứ phải bám trụ tới cùng không?

Những sự cố về sau xảy ra ở Tu Viện Bát Nhã khiến cho những người có lòng với quê hương, với Phật Giáo, không khỏi đau lòng, vì chúng có ảnh hưởng tác hại đến mọi phía, từ Làng Mai cho đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng như chính quyền, mà nguồn gốc chính là vô minh. Tình trạng dậm chân tại chỗ [standoff] ở Tu Viện chưa được giải quyết ổn thỏa thì một sự cố khác lại xảy ra làm tăng thêm sự căng thẳng rắc rối giữa chính quyền và Làng Mai về vụ Tu Viện Bát Nhã. Đó là nội dung bức thư của Giáo sư Nguyễn Lang gửi Chủ Tịch Nước nguyên văn như sau:

A. Thư của Giáo sư Nguyễn Lang gửi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

New York ngày 30 tháng 9, 2009
Kính thưa Chủ tịch,
Tôi không biết hiện giờ Chủ tịch đang ở đâu, nên nhờ mạng Phù sa gửi một bản thư này đến Chủ tịch. Đây là một tiếng chuông chánh niệm. Cửa Phật là cửa rộng, những lúc hiểm nguy ai cũng có quyền tới nương nhờ. Ngày xưa trong Cách mạng chống Pháp, hàng ngàn chiến sĩ cách mạng đã từng tới ẩn náu tại chùa và các thầy các sư cô luôn luôn tìm mọi cách để đùm bọc và che chở. Bây giờ đây cảnh sát và công an của Chủ tịch đã đánh bật 400 thầy và sư cô ra khỏi chùa (Tu Viện Bát Nhã ở Bảo Lộc) và các vị ấy đã tìm tới tỵ nạn nơi một chùa khác (chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc). Hiện thời cảnh sát và công an của Chủ Tịch lại đang vây quanh chùa Phước Huệ buộc các vị xuất gia ấy phải ra khỏi chùa trong đêm nay. Các vị cảnh sát và công an này chắc hẳn không phải là con cháu của Cách Mạng. Tôi xin Chủ Tịch kịp thời ngăn chận hành động trái chống luân thường đạo lý này.

Trân trọng cảm ơn Chủ Tịch.

Nguyễn Lang

Tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

Tôi thấy có 3 vấn đề khá nghiêm trọng về bức thư Giáo sư Nguyễn Lang gửi cho Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết.

¨ Thứ nhất, gửi thư cho Chủ Tịch Nước có cần thiết biết là Chủ Tịch đang ở đâu không. Nếu gửi đến Phủ Chủ Tịch thì tự động nhân viên phụ trách trong Phủ sẽ đọc trước và đệ trình Chủ Tịch sau, khi nào có thể. Lý do là vì không biết hiện giờ Chủ tịch đang ở đâu [irrelevant], nên nhờ mạng Phù sa gửi một bản thư này đến Chủ tịch lại là một chuyện khá buồn cười, vì như vậy chứng tỏ Phù Sa đã biết là Chủ Tịch đang ở đâu và không cho Làng Mai biết, và cho rằng Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết có thì giờ đọc mạng Phù Sa. Phù Sa chỉ là một trang nhà ở Pháp [phusaonline.free.fr], cũng như trang nhà Làng Mai ở Pháp. Vậy sao không gửi từ trang nhà Làng Mai mà lại phải nhờ Phù Sa? Biết Chủ Tịch Nước ở đâu là những nhân viên sắp xếp những chuyến công du hay những nghị trình cho Chủ Tịch, không phải là trang nhà Phù Sa mà nội dung thường không có thiện cảm với chính quyền.

¨ Thứ nhì, Nguyễn Lang chỉ là bút hiệu của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh khi viết cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận. Nhưng viết thư gửi Chủ Tịch Nước thì không mấy ai dùng bút hiệu mà phải dùng tên thật, hoặc thế danh là Nguyễn Xuân Bảo, hoặc Pháp danh là Thích Nhất Hạnh. Tại sao? Bởi vì Pháp danh Thích Nhất Hạnh thì ai cũng đã biết, và trong hồ sơ hộ tịch của các công dân Việt Nam, nếu còn giữ, thì chỉ có tên Nguyễn Xuân Bảo chứ không có tên Nguyễn Lang. Hơn nữa, rất có thể Chủ Tịch Triết chưa hề đọc cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận cho nên không biết Nguyễn Lang là ai. Cho nên ký tên trong thư là Nguyễn Lang: Tác Giả cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận có vẻ như nói lên tác phẩm Việt Nam Phật Giáo Sử Luận rất đặc biệt, Chủ Tịch nước và toàn dân phải biết. Thường thì khi viết thư cho vị Nguyên Thủ Quốc Gia tác giả chỉ nên ký tên thật, địa chỉ, và chức vụ hay bằng cấp nếu có, chứ không ai lại đề là tác giả một cuốn sách. Đây là điều tôi chưa từng thấy.

¨ Thứ ba, đọc câu Bây giờ đây cảnh sát và công an của Chủ tịch đã đánh bật 400 thầy và sư cô ra khỏi chùa, tôi thấy Giáo sư Nguyễn Lang, alias Thích Nhất Hạnh đã đi quá xa rồi, nếu không muốn nói là có vẻ coi thường, thiếu lễ độ, với Chủ Tịch Nước dựa trên những thông tin hoàn toàn sai lầm. Tôi không gạt bỏ trường hợp là trong đám người đến trục xuất Tăng Ni ra khỏi Tu Viện Bát Nhã có cảnh sát và công an mặc thường phục, nhưng đọc câu trên tôi có cảm tưởng tất cả đều là những cảnh sát và công an của Chủ Tịch Nước đã phái đến để đánh bật 400 thầy và sư cô ra khỏi chùa, dù rằng Chủ Tịch không có nhiệm vụ chỉ huy cảnh sát và công an, và thật ra thì không có cảnh sát và công an nào của Chủ Tịch, mà đó là những nhân viên của các cơ quan giữ an ninh địa phương. Nhưng điều khó hiểu mà cũng rất dễ hiểu là tại sao những hành động dùng bạo lực của ĐĐ Đồng Hạnh và tay chân đối với các Tăng Ni trẻ ở Tu Viện Bát Nhã, với sự có mặt chắc chắn của các nhân viên an ninh địa phương, mà lại không bị khởi tố. Mặt khác, GHPGVN, Ban trị sự PG Lâm Đồng có thưa kiện nhưng không ai giải quyết, khi lãnh đạo PG bị đả thương. Vậy chúng ta phải suy luận sự việc này như thế nào? Chắc chắn là, không nhiều thì ít, phải có vai trò của chính quyền địa phương, và có thể cả chính quyền trung ương, trong những diễn biến thất nhân tâm này.

Từ trước tới nay tôi vẫn kính trọng Thầy Nhất Hạnh. Tôi đã từng giới thiệu cuốn “Đường Xưa Mây Trắng” của Thầy, đưa lên Internet tác phẩm “Tùng”, và đã từng viết bài bênh vực Thầy trong vấn đề “Phản Chiến” cũng như về lời Thầy tuyên bố về “Bến Tre” ở New York. Nhưng qua bức thư gửi Chủ Tịch Nước, tôi thấy Giáo sư Nguyễn Lang đã vấp phải một sai lầm trầm trọng khi viết câu trên trong bức thư gửi cho Chủ Tịch Nước. Tôi không hiểu tại sao Thầy Nhất Hạnh lại sơ xuất đến thế, và tôi hy vọng Giáo sư Nguyễn Lang hãy hồi tâm nghĩ lại, và có một lời giải thích thỏa đáng với Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết công khai trước quần chúng, và trên Internet vì thư đã được loan truyền trên Internet. Tại sao? Vì Giáo sư Nguyễn Lang không thể viết như trên và không bao giờ nên viết như trên. Sự phân tích vấn đề sau đây hi vọng sẽ làm sáng tỏ vấn đề.

B. Lời Tuyên Bố của Sư cô Chân Không

Nhưng trước hết, chúng ta hãy ghi nhận thêm một thông tin từ Làng Mai. Tiếp theo bức thư của Giáo sư Nguyễn Lang là lời đe dọa chính quyền của sư cô Chân Không, cánh tay phải của Sư Ông ở Làng Mai, trong cuộc phòng vấn của VOA Việt Ngữ với Nguyễn Trung:

Trong cuộc phỏng vấn với Nguyễn Trung của VOA Việt Ngữ, sư cô Chân Không, một trong những người sáng lập Làng Mai ở Pháp, khẳng định rằng Nguyễn Lang chính là bút hiệu của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, và rằng trong lần lên tiếng đầu tiên này, Thiền sư ‘muốn xem phản ứng của Chủ tịch Việt Nam ra sao, rồi sẽ có các bước đi tiếp theo’…

Sư ông Làng Mai, tức là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, nói rằng phải đi từng bước. Ở trong nước giải quyết trước, giống như truyền thống ở Việt Nam, ở trong nhà bố mẹ không giải quyết được, thì nhờ cô dì. Cô dì lại không giải quyết được, thì nhờ tới hàng xóm, rồi mới nhờ tới người ngoài tức là chính quyền. Chính quyền không được thì mới tới nước ngoài. Thành ra, bây giờ gửi tới cụ Nguyễn Minh Triết xem cụ giải quyết thế nào.

Tôi nghĩ rằng “cụ Triết” không có bổn phận phải đích thân giải quyết một vấn đề về tôn giáo ở Tu Viện Bát Nhã. Trong chính quyền không còn ai, thí dụ như Thủ Tướng chẳng hạn, hay Ban Tôn Giáo Chính Phủ, có thể giải quyết được vụ này hay sao. Nhất là, khi vụ Tu Viện Bát Nhã xảy ra thì Chủ Tịch Nước đang công du nước ngoài theo như tải liệu của phóng viên Reuters John Ruwitch:

Cần ghi nhận là, khi tăng thân Làng Mai bị đuổi khỏi Tu Viện Bát Nhã thì Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đang viếng thăm đồng minh Cộng sản Cuba, ngay sau chuyến đi New York họp với Hội đồng Bảo an và một cuộc họp khoáng đại tại trụ sở LHQ.

[It is interesting to note that President Triet was in Communist ally Cuba when the Bat Nha evictions happened, just after a trip to New York for a United Nations Security Council meeting and a General Assembly debate].

Chẳng có lẽ Chủ Tịch Nước lại cắt ngang chương trình công du, thực hiện nhiệm vụ ngoại giao của mình để trở về nước giải quyết vụ Tu Viện Bát Nhã theo ý muốn của Làng Mai?? Việc này đã có chính quyền ở Lâm Đồng và Ủy ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo ở Lâm Đồng lo, vì đó chính là nhiệm vụ của họ. Nếu chính quyền Lâm Đồng với các Ủy Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo, Ủy Ban Nhân Dân, Ban Tôn Giáo và Mặt Trận Tổ Quốc ở ngay địa phương mà không giải quyết được thì Chủ Tịch nước sẽ giải quyết theo cách nào? Giải quyết theo lời yêu cầu không đúng cách và có tính cách xúc phạm của Giáo sư Nguyễn Lang, dựa trên những thông tin sai lầm, “để xem Chủ Tịch Việt Nam phản ứng ra sao”??. Lời đe dọa của sư cô Chân Không có ý nói rằng, nếu Chủ Tịch Triết không giải quyết sự việc theo ý muốn của Làng Mai thì Làng Mai sẽ đi những bước kế tiếp, bước cuối cùng là nhờ các nước ngoài. Chính những điều này đã làm cho Làng Mai không còn là Làng Mai nổi tiếng như trước nữa. Bây giờ chúng ta hãy đi vào những biến cố đã xảy ra ở Tu Viện Bát Nhã. Đối với chính quyền thì Thiền sư Nhất Hạnh là ai? Sư cô Chân Không là ai? Nếu là ai thì đã không xảy ra vụ Tu Viện Bát Nhã.

C. Các Bản Tường Trình về các Bạo động

Đi vào chi tiết vụ Tu Viện Bát Nhã, qua những thông tin trên trang nhà Phương Bối: Trang nhà các tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai tại Việt Nam chúng ta có thể thấy việc đánh bật 400 thầy và sư cô ra khỏi chùa có sự can dự của rất nhiều người xuất xứ không rõ, từ Thượng Tọa Thích Đức Nghi, Đại đức Thích Đồng Hạnh cho đến các Phật tử của Tổ Đình An Lạc (các chùa do thầy Đức Nghi làm viện chủ và trụ trì) v..v… chứ không phải chỉ là cảnh sát và công an của Chủ Tịch như Giáo sư Nguyễn Lang đã viết.

Đúng vậy, chúng ta hãy duyệt qua vài nét chính trong:

Bản Tường Trình về các Bạo động tại Tu viện Bát Nhã từ ngày 22.06 – 02.07.2009 do các đệ tử của TT Đức Nghi điều động của
Tỳ kheo Thích Chân Pháp Sĩ (thế danh Nguyễn Duy Sơn) TM Ban Đại Diện Đối Ngoại

Thứ hai 22/6/2009: Vào buổi sáng, các sư cô xóm Bếp Lửa Hồng thấy có 3 thanh niên vào giựt sập 2 cốc tranh sát bếp của xóm một cách ngang nhiên. Các sư cô không dám nói gì vì thấy thái độ của họ quá hung hãn.

Thứ ba 23/6/2009: Buổi sáng, thầy Đồng Hạnh đã tưới xăng đốt một cốc tranh còn lại nhưng vì đêm trước trời mưa, cốc còn ướt, nên chỉ bốc cháy một phần nhỏ. Các sư cô xóm Bếp lửa Hồng ra năn nỉ đừng đốt thì thầy nói: “Làng Mai không có quyền gì ở đây”…. Buổi trưa các sư cô phát hiện 3 đường dây điện thoại bàn của Xóm Bếp Lửa Hồng không hoạt động được nữa.

Thứ tư 24/6/09: Buổi sáng có một thanh niên với một số tu sĩ huynh đệ với thầy Đồng Hạnh tiếp tục xuống Xóm Bếp Lửa Hồng giựt sập cốc. Trong lúc đó thầy Đồng Hạnh ngồi phía ngoài dứ dứ cây rựa. Có một số Phật tử đến chùa thấy lạ đứng nhìn thì bị thầy Đồng Hạnh một tay cầm rựa một tay chỉ vào mặt và nói: “Tụi bây quậy chùa tao, cút khỏi đây, không tao giết chết hết bây giờ!!”. Không khí rất nặng nề và đe dọa.

Thứ sáu 26/06/09: Các đường dây điện thoại xóm Bếp Lửa Hồng được nối lại. Nhưng đường dây điện thoại bàn của xóm Rừng Phương Bối lại bị cắt. Đồng thời tảng đá lớn trước đây có khắc chữ “Tu Viện Bát Nhã” bằng tiếng Việt, tiếng Phạn, tiếng Hán, tiếng Anh đã bị đục bỏ chỉ còn lại tiếng Việt.

Thứ bảy 27/06/09: Tối ngày 27/06/09 lúc 18g thì khu vực trai đường, khu cư xá Tâm Ban Đầu, khu vực nhà khách của tu viện đã có điện lại. Trong khi đó khu vực tăng xá xóm Rừng Phương Bối, thiền đường Cánh Đại Bàng, xóm Bếp Lửa Hồng vẫn không có điện. Khi ra chỗ cầu dao tại cốc Tùng Xanh kiểm tra thì thấy cầu dao bị phá hủy, ra trụ điện 3 pha kiểm tra thì thấy tất cả cầu chì (hệ thống điện của 3 nơi sinh hoạt nói trên) bị mất.

Chủ Nhật 28/06/09: Vào lúc 11giờ 30 phút, trong lúc gần 400 tu sinh đang thọ trai tại thiền đường Cánh Đại Bàng, thầy Pháp Anh đang nằm nghỉ trong cư xá Tâm Ban Đầu thì thấy thầy Đồng Định dùng cây đập vào ổ điện dùng để bơm nước tại cốc Tùng Xanh. Thấy như thế, thầy Pháp Anh dùng máy ảnh nghi nhận sự kiện, bị thầy Đồng Định quay lại ném 3 cục đá vào thầy Pháp Anh đang ở trong cư xá Tâm Ban Đầu. Thấy nguy hiểm đến tánh mạng nên thầy Pháp Anh đi ra khỏi cư xá, lúc đó nhóm khoảng 200 người kia lần lượt xông tới hướng thầy Pháp Anh chửi bới và đe dọa bằng gậy gộc. Nghe tiếng ồn ào, vài thầy đang có mặt tại tăng xá Rừng Phương Bối đi ra và chụp ảnh. Cả nhóm người quay lại tấn công vào các thầy đang chụp ảnh với thái độ giận dữ. Thấy tình thế nguy hiểm các thầy lui vào tăng xá. Khi các anh Công An địa phương có mặt trước tăng xá thì nhóm gần 200 người ùa vào nhà bếp trai đường khiêng hết vật dụng bỏ ra ngoài. Thấy cảnh hỗn độn nhiều anh Công An đến thổi còi can thiệp, nhưng tình trạng vẫn được tiếp diễn. Sau đó mọi người đồng loạt chạy vào khu cư xá Tâm Ban Đầu khiêng tất cả đồ vật cá nhân, giường chiếu, kinh sách…ra bỏ ngoài sân. Trong lúc hỗn loạn như thế các anh Công An chỉ đứng quay phim chụp hình.

Thứ hai 29/6/09: Buổi sáng: phát hiện tượng đài Mẹ tại công trường Bông Hồng Cài Áo bị đập phá và sơn chữ lên. Đoạn đường từ xóm Rừng Phương Bối xuống xóm Bếp Lửa Hồng bị rào chắn ngang. Buổi trưa: thấy những người tấn công hôm trước vào bếp lấy củi trang bị mỗi người một cây. Trưa đó các sư cô dưới Bếp Lửa Hồng cung cấp thức ăn cho các thầy ở Rừng Phương Bối vì nhà bếp của xóm đã bị chiếm lấy. Lúc 15g giờ, từ trong tăng xá các xóm nghe tiếng ồn ào, la hét, thấy nhiều người cầm gậy chạy ra hướng thiền đường Cánh Đại Bàng. Mọi người trong tăng xá ba xóm sợ hãi không biết chuyện gì xảy ra (sau này mới biết là có Chư Tôn Đức Ban Trị Sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng và Phật Tử bị tấn công). Lúc 16g30: Cũng nhóm người đó tấn công vào tăng xá Rừng Phương Bối bằng cách xông vào đập phá đồ đạc và chặn đường cầu thang khi các thầy lui lên thiền đường ở tầng 3. Vì một số các thầy chưa lên kịp nên cửa thiền đường chưa đóng. Có hai thanh niên và một nhóm phụ nữ có thái độ rất hung dữ theo lên tới tầng 3, xông vào thiền đường, xô đẩy mấy thầy và chửi bới om xòm. Lúc đó có vài Công An mặc sắc phục xuất hiện, can thiệp và mời những người đó xuống lầu, rời khỏi Tăng Xá. Sau đó đường vào thiền đường Cánh Đại Bàng bị rào chắn ngang bằng cây xanh.

Thứ ba 30/6/09: Khu vực Rừng Phương Bối: Có khoảng 5, 6 thanh niên dáng điệu hùng hổ vào nhà kho gần tăng xá xóm Rừng Phương Bối lấy xà beng, ống sắt xây dựng vác đi quanh khu vực tăng xá và chửi rủa chúng tôi.

Thứ tư 1/7/09: Lúc 5h sáng, khi các thầy lén lên Mây Đầu Núi để tìm cách nối lại dây điện thì phát hiện máy bơm nước tại cổng tháp nước bị phá, đường ống bị đập bể và có người bỏ đầy cát, đá vào ống bơm nước. Như vậy tình hình lúc này là các xóm đều bị mất điện, thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Chỉ còn một máy bơm nhỏ duy nhất trên xóm Rừng Phương Bối hoạt động mỗi ngày nửa tiếng để cung cấp nước uống.

Thứ năm 2/7/09: Lúc 8g sáng, phát hiện ống dẫn nước từ bể chứa tăng xá quý thầy dẫn xuống bể nước xóm Bếp Lửa Hồng bị đập bể. Lúc 15 giờ, phát hiện máy bơm nước, (sau khi bị phá), ở tháp nước đã bị lấy mất.

Trên đây đại khái là những gì đã xảy ra trước ngày 27/9/2009, ngày các Tăng Ni ở Tu Viện Bát Nhã bị đe dọa và phải rời khỏi Tu Viện. Những gì xảy ra ở Tu Viện Bát Nhã ngày 27/9/2009 thì không rõ rệt đối với tôi. Đọc những thông tin trên Internet thì phần lớn là những thông tin gián tiếp. Nhưng có một nhân chứng có mặt tại Tu Viện Bát Nhã đúng ngày 27/9/2009 và tôi tin rằng những thông tin của anh ta là trung thực. Đó là nhà nghiên cứu sử Nguyễn Đắc Xuân ở Huế. Sau đây là vài đoạn trong một bài viết của anh (nguyên văn lá thư đăng trên http://bauxitevietnam.info/c/12705.html).

Bài của nhà nghiên cứu sử Nguyễn Đắc Xuân
Tôi rảo bước đến cuối Thiền đường đi về hướng xóm Rừng Phương Bối dành cho các tăng sinh. Khu vực này nằm ngay phía sau khu vực Chánh điện và các cơ sở chính của TV Bát Nhã của TT Đức Nghi. Chỉ cách nhau một cái sân hẹp. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy trên tường TV Bát Nhã nhìn về phía dãy lầu xóm Rừng Phương Bối, TT Đức Nghi cho treo những băng-đờ-rôn viết những khẩu hiệu bằng một thứ ngôn ngữ chợ búa đe dọa, xua đuổi, xuyên tạc việc tu tập của gần 400 Thiền sinh tu theo Pháp môn Làng Mai.

Tôi đi men theo con đường sát với khu nhà bếp đối diện với xóm Rừng Phương Bối. Nhìn qua hàng rào tôi thấy bên trong hàng trăm người đàn ông, đàn bà, con trai con gái, áo nâu, áo lam nhếch nhác, nhiều người ăn mặc như cán bộ, một số cầm máy ảnh, máy quay phim, đùi, gậy, dao rựa đi đi lại lại, ăn nói, cười cợt lao xao. Tôi liên tưởng đến những côn đồ, xã hội đen, giả Phật tử đã từng tung hoành ở Bát Nhã được lưu trong các trang web phapnanbatnha, phusa, langmai lâu nay. Tôi sợ phải đối đầu với những đồng chí của mình nên muốn nhanh chân ra khỏi nơi này.

Tôi vừa ra đến bên hông Chánh điện thì phía sau lưng tôi vang lên tiếng la ó, chửi bới và đám đông ùa qua Rừng Phương Bối đánh đuổi các Thiền sinh. Không hiểu sao, tôi quay lại thấy tất cả các Thiền sinh đều ngồi trong tư thế kiết già, bất động, chắp tay niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm để mặc cho người của TT Đức Nghi hành động đánh đập, lôi kéo, phá tán.

Như cái máy, tôi lui ra. Quay nhìn xuống dưới vườn chè lại thấy một nhóm người khác của TT Đức Nghi ùa xuống xóm Bếp Lửa Hồng. Và cảnh bạo hành như ở Rừng Phương Bối diễn ra và các ni cũng ngồi kiết già niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.

Trên đây là một số những hành động có tính cách bạo lực, vô cương vô pháp, ở Tu Viện Bát Nhã ngày 27/9/2009 mô tả bởi một nhân chứng tại chỗ. Anh Nguyễn Đắc Xuân đưa ra một số quy trách và sau đây là hai lời lên án điển hình:

- Việc bạo hành đã và đang xảy ra tại Tu viện Bát Nhã từ trước đến nay, TT. Thích Đức Nghi, Thích Đồng Hạnh và đồng bọn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước luật pháp nhà nước và giáo luật của Giáo hội “ (NĐX nhấn mạnh)

- Tất cả các cuộc bạo hành do thầy trò TT Đức Nghi tiến hành ở Tu viện Bát Nhã từ tháng 6 đến nay đều có sự chứng kiến của công an cảnh sát địa phương. Công an cảnh sát là những người có nhiệm vụ trấn áp tội phạm bảo vệ dân lành, tại sao các anh lại không ngừng phối hợp với tội phạm mang tên Thích Đức Nghi? Hay Thích Đức Nghi là người của …?

- Công an, cảnh sát là lực lượng thi hành pháp luật, chính đại quang minh, thế lực lượng công an cảnh sát của địa phương đi đâu mà không tham gia vào việc cưỡng chế 400 Thiền sinh ở tu viện Bát Nhã mà lại đi dùng đến những thành phần ô hợp xã hội đen? Hành xử như thế các anh có biết là tiếp tay cho bọn chống phá Việt Nam bôi nhọ chính quyền ta không?

Tôi nghĩ rằng, xúc cảm trước cảnh đau lòng, anh Nguyễn Đắc Xuân đã cho rằng công an địa phương đã dùng đến những thành phần ô hợp xã hội đen. Tôi thấy điều này không đúng, vì xã hội đen là xã hội của những người thuộc các băng đảng tội phạm, có thể làm bất cứ điều gì để có tiền, kể cả tống tiền, ăn cướp, giết người v..v…. Nhưng xem mấy cái video trên trang nhà phuongboi.org, thí dụ như video «công an quay phim sinh hoạt với các côn đồ» tôi chỉ thấy có vài người quay phim, không thấy cảnh sinh hoạt nào, và đa số những người trong video là phụ nữ còn trẻ, có cả các thiếu niên, đi qua đi lại, một số đang khuân vác đồ đạc v.v… Hơn nữa trong đoạn trên anh Xuân có thấy hàng trăm người đàn ông, đàn bà, con trai con gái, áo nâu, áo lam nhếch nhác. Chẳng có lẽ một thị xã nhỏ như Lâm Đồng lại có nhiều người ở trong xã hội đen với những thành phần tạp nham như vậy hay sao, mà lại dưới quyền sử dụng của công an? Một ý nghĩ thoáng qua đầu: phải chăng có sự tương phản giữa đời sống vất vả lam lũ của dân trong vùng và hình ảnh tu tập an nhiên tự tại của Tăng Ni ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, cho nên sự tương phản này đã bị khai thác.

Bất kể vì những nguyên nhân nào mà xảy ra vụ Tu Viện Bát Nhã, những hành động có tính cách bạo lực, vô cương vô pháp, đe dọa hành hung các Tăng sĩ ở Tu Viện Bát Nhã trước sự làm ngơ của lực lượng công an cảnh sát Lâm Đồng cũng phải lên án, và chính quyền Lâm Đồng phải chịu trách nhiệm. Không có lý lẽ nào có thể biện minh cho những hành động trên được. Mặt khác những hành động của các TT Thích Đức Nghi, Thích Đồng Hạnh, Thích Đồng Định đã làm hoen ố bộ mặt của các trưởng tử Như Lai, không xứng đáng làm người con Phật và cần phải có biện pháp kỷ luật, có thể là cưỡng bách hoàn tục, không thể để mang họ Thích trong cộng đồng Phật Giáo.

Tuy nhiên, để cho cuộc nghiên cứu của tôi về vụ Tu Viện Bát Nhã tạm gọi là có đầu có đuôi, tôi không thể không nói đến những nguyên nhân mà theo ý tôi đã đưa đến vụ Bát Nhã, bởi vì tôi thấy trong vụ việc này có nhiều mâu thuẫn bí ẩn. Tìm hiểu những nguyên nhân này tuyệt đối không phải để biện minh cho những biện pháp dùng bạo lực ở Bát Nhã, như tôi vừa nhận định ở trên. Trước hết chúng ta hãy tổng duyệt lại những sự cố chính về Tu Viện Bát Nhã.

III. Diễn Tiến Và Những Bí Ẩn:

Sau khi tổng hợp và phân tích các tài liệu thu thập được tôi thấy rằng, ngoài nguyên nhân gần mà vai trò chính là TT Đức Nghi với những hành động trực tiếp hay gián tiếp đối với các Tăng Ni ở Tu Viện với sự đồng tình hay làm lơ của chính quyền, có lẽ nguyên nhân chính và xa đưa đến vụ Tu Viện Bát Nhã là trên thực tế thì “Dù Thầy NH vô tình hay hữu ý, dù Thầy NH muốn hay không muốn, thì những tuyên bố của Thầy là một ứng xử chính trị: đối tượng là chính trị, lãnh vực là chính trị, nội dung là chính trị, hậu quả là chính trị.” dù rằng có luận cứ cho rằng Thầy Nhất Hạnh không làm chính trị mà chỉ nói lên…sự thật, hay chỉ nói lên tiếng nói lương tâm của người tu sĩ Phật Giáo. Cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở hải ngoại cũng như ở trong nước có nhiều quan điểm khác nhau về Thiền sư Nhất Hạnh và Làng Mai, và không phải là tất cả đều có thiện cảm. Cũng có thể Thiền Sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai đã quen hoạt động ở nước ngoài nên không để ý đến chuyện “nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”, quên rằng, đối với Việt Nam, họ chỉ là người nước ngoài. Vì vậy trong những chuyến về Việt Nam, Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai đã có một số hành động gây ấn tượng hoành tráng cho một số người, nhưng đồng thời cũng gây nên một số ấn tượng không đẹp đối với chính quyền và đại khối Phật Giáo không theo Làng Mai.

A. Từ Đón Rước Tưng Bừng

Tại Trai đàn chẩn tế 2005

Đầu năm 2005, Thiền Sư Nhất Hạnh cùng với đoàn tăng ni Phật tử vài trăm người tháp tùng đã về Việt Nam và được đón tiếp rất trọng thể. Tại phi trường có cả một đám đông chờ đón, có rắc hoa thơm trên lối đi, có nhiều phóng viên phỏng vấn. Và trong những cuộc đón tiếp sau đó chúng ta thấy cảnh thảm đỏ, lọng vàng v…v… Tôi không tin là Thầy Nhất Hạnh muốn như vậy, nhưng phải tùy thuận với ý muốn của chính quyền hay Giáo Hội Phật Giáo bên nhà. Nhưng với những nghi thức đón tiếp như vậy trong thời đại ngày nay, không phải không có những người thấy đó là những hình thức phô trương bề ngoài và có thể đưa đến sự hiểu lầm như một số ý kiến phê bình tiêu cực trên một số diễn đàn truyền thông Hải ngoại .

Đầu năm 2007 Thiền Sư Nhất Hạnh đã cùng Tăng thân Làng Mai về Việt Nam và tổ chức ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế , hay Đại Trai Đàn Thủy Lục Giải Oan Bình Đẳng ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Huế, và Hà Nội. Chiều 5-5-2007, tại Phủ Chủ tịch ở Hànội, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tiếp Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và đại diện thiền sinh, cư sĩ trong đoàn tăng thân Làng Mai (Pháp) tới chào xã giao, nhân dịp đoàn về thăm Việt Nam theo lời mời của Ban Phật giáo Quốc tế thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.

Trong chuyến về này, tại Tu Viện Bát Nhã có lễ Truyền Đăng do Thiền Sư Nhất Hạnh chủ trì. Theo Báo Viet Tide thì:

Truyền Đăng là một nghi thức trong Phật Giáo, được truyền thừa qua nhiều đời, là một buổi lễ ấn chứng, xác quyết khả năng tu tập và năng lực nội tại của đệ tử, sau khi vị thầy thấy được tâm đắc của đệ tử trình bày qua thi, kệ. Người được truyền đăng được xem là vị Giáo thọ, không những trên mặt truyền bá giáo lý, mà thân giáo, khẩu giáo và hành giáo đều đáng là bậc trưởng tử Như Lai. Tưởng cũng nên biết, Thượng tọa Đức Nghi đã được Thiền Sư Nhất Hạnh “truyền Đăng” tại Mai Thôn vào năm 2006.

Với vụ Tu Viện Bát Nhã mà vai chính trong đó là TT Đức Nghi thì có vẻ như Thiền Sư Nhất Hạnh đã truyền Đăng lầm người. Mà không phải chỉ có TT Đức Nghi mà còn ĐĐ Đồng Hạnh cũng đã được truyền Đăng ở Làng Mai năm 2006.

Năm 2008, Thiền sư Nhất Hạnh cùng phái đoàn Tăng thân Làng Mai về dự Đại Lễ Vesak Tam Hợp Liên Hiệp Quốc được tổ chức ở Việt Nam, do lời mời của Ban Phật giáo Quốc tế trong Giáo hội Phật giáo VN (GHPGVN) và UB Tổ chức Quốc tế Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc 2008 (IOC). Được biết trong những dịp về Việt Nam, Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai đã tổ chức các khóa tu cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam và cho người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam.

Nếu tất cả những gì Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai làm ở Việt Nam chỉ có những hoạt động tôn giáo như trên và nằm trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam và Hiến Chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thì tôi nghĩ sẽ không xảy ra vụ Tu Viện Bát Nhã, vì chúng ta đã biết, theo một tài liệu của một số Tăng Ni trẻ ở Tu Viện, thì họ đã có rất nhiều đóng góp cho cộng đồng. Sau đây là một đoạn trong bản “Bản Tường Trình về Sinh hoạt của Tăng thân Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã” của mấy Tăng Ni ở Bát Nhã: Thích Chân Pháp Khâm, Thích Chân Trung Hải, Thích Nữ Chân Thoại Nghiêm, Thích Nữ Chân Phúc Nghiêm.

Trong ba năm qua, về mặt tu học chúng con đã tổ chức các khoá tu 5 ngày cho cả ngàn người trẻ (một năm hai lần và đã có hai lần dành riêng cho tăng ni), các ngày tu quán niệm (hàng tháng), hướng dẫn Phật tử đến tu học thường xuyên tại tu viện, tụng kinh nhật tụng (mỗi tối), sám hối (rằm và mồng một), tổ chức và tham dự các sinh hoạt lễ hội lớn như Tết, Phật Đản và Vu Lan. Trong lễ Tam Hợp vừa qua chúng con cũng đồng thời tham dự lễ Vesak tại Hà Nội với Sư Ông, lễ Vesak tại tu viện Bát Nhã, tại thị xã Bảo Lộc, tại Đà Lạt, tại chùa Hoa Nghiêm (Bảo Lâm). Chúng con cũng giúp hướng dẫn tu học cho Phật tử vùng sâu vùng xa tại huyện Bảo Lâm (ngày quán niệm), cho các điệu người dân tộc tại chùa Di Đà, buôn Đăng Đừng (sinh hoạt mỗi tuần). Đặc biệt với các em trong GĐPT tại Bát Nhã đã ngừng sinh hoạt vì không có huynh trưởng, chúng con đã hướng dẫn Phật pháp, ngồi thiền, chơi thể thao, dạy tiếng Anh và từ 20 em đã lên tới 70 em (từ 5 tuổi đến trên 20 tuổi) sinh hoạt hàng tuần. Mỗi ngày quán niệm đầu tháng có trên 20 em ở Bảo Lâm thường xuyên tham dự. Chúng con phát quà Trung thu, hỗ trợ sách giáo khoa và vở mỗi đầu năm học và năm nay có 90% các em đủ sách vở đi học. Với sự giúp đỡ của các thiền sinh trẻ từ Sàigòn lên tham dự khóa tu ở Bát Nhã và của nhóm tình nguyện ‘Ước mơ xanh’, hiện giờ các em đã có tủ sách với trên 2.000 đầu sách để đọc và mượn mỗi tuần. Chúng con cũng đến thăm và giúp giải quyết nhiều trường hợp cha gặp khó khăn, bạo động đánh vợ đâm con, khuyên răn và hỗ trợ vật chất, cấp học bổng mỗi 6 tháng để giúp em yên tâm học tập.
Về mặt từ thiện, chúng con cũng tổ chức và tham dự vào các chương trình từ thiện giúp đồng bào dân tộc (phát quà, phát gạo và nâng cao phẩm chất sống vệ sinh ở buôn Đăng Đừng) và kêu gọi Phật tử yểm trợ tài chánh để phát quà cho đồng bào quanh vùng mỗi mùa Vu Lan (khoảng 380 phần). Chúng con cũng yểm trợ Hội Khuyến Học ở thôn 14 để giúp các em học sinh có điều kiện học tốt hơn bằng cách phát sách vở, đồ dùng học tập (khoảng 100 em) vào mỗi đầu năm học.

B. Tài liệu của John Ruwitch, phóng viên Reuters

Thầy Đức Nghi tại lễ Truyền Đăng

Thay Duc Nghi tại lễ truyền đăng

Với những hoạt động xã hội, từ thiện, văn hóa.. như trên, không lẽ vì vậy mà TT Đức Nghi thay đổi ý kiến và chính quyền địa phương lại quyết tâm không để cho các Tăng Ni này tu tập ở Tu Viện Bát Nhã. Tất nhiên phải có những nguyên nhân nào đó đã là mầm mống để đưa đến vụ Tu Viện Bát Nhã.

Chúng ta hãy trở lại một tài liệu của John Ruwitch, phóng viên Reuters đã nói đến ở trên. Ruwitch viết:

Một tài liệu của chính quyền địa phương mà đệ tử của Thích Nhất Hạnh có được và cho Reuters coi nói là nhóm Tăng thân Làng Mai –Việt Nam không được nhà nước (CHXHCNVN) hay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam công nhận và đã tu học tại viện Bát Nhã bất hợp pháp. Nguyên nhân của vấn đề có thể là từ quá khứ, ít ra là một phần, liên quan đến chuyến thăm Việt Nam cuối năm 2007 của Thích Nhất Hạnh. Trong chuyến đi Việt Nam đó, ông ta đã nói với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết rằng nhà nước nên dẹp bõ ngành công an tôn giáo và giải tán Ban Tôn giáo chính phủ, cơ quan giám định những sinh hoạt tôn giáo.

Rồi đến 2008, niên giám của Làng Mai đề xuất với chính phủ hãy từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản, bỏ chữ “Cộng Sản” ra khỏi tên của Đảng chính trị cầm quyền, và bỏ cụm từ “Xã hội chủ nghĩa” ra khỏi tên chính thức của nước, “Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Theo một tài liệu của Làng Mai thuật lại chi tiết vụ Tu Viện Bát Nhã thì những đề nghị đó dù được đề xuất với ước muốn có lợi cho đất nước nhưng đã làm phật ý nhóm công an tôn giáo, và từ đó trở đi có vẻ như đã giáng sự phật ý này trên Thích Nhất Hạnh và những người theo ông ta.

[A local government document fromlast monthobtained by Thich Nhat Hanh’s followers andshown to Reutersstated that the group wasnot recognised by the state or the official Buddhist congregation and was staying at Bat Nha illegally. The roots of theproblemmay go back, in part at least, to Thich Nhat Hanh’s late 2007 visit to Vietnam. During that trip, he told Vietnamese President Nguyen Minh Triet that the government shouldabolish the arm of the police that tracks religious groups and disband the government’s Religious Affairs Committee, which regulates religious activities.

Then, in early 2008, the annual journal of Plum Village proposed that the government abandon Communism, take the word Communist out of the name of the ruling political party and remove “Socialist” from the country’s official name, Socialist Republic of Vietnam. Although the comments may have been made with the interests of the Vietnamese nation in mind, theywere resented by the religiouspolice who, from that point on, pretty much had it in for Thich Nhat Hanh and his followers, a Plum Village document detailing the background of the incident said.]

Tôi đã kiểm chứng thông tin trên của John Ruwitch. Trong Lá thư Làng Mai số 31, trang 13, quả thật có những ý kiến về đổi tên đảng Cộng Sản và bỏ cụm từ “Xã Hội Chủ Nghĩa” trong tên nước thành “Cộng Hòa Việt Nam” hay chỉ đơn giản là “Việt Nam”. Về những đề nghị chính trị trên của của Làng Mai, trong cuộc trao đổi ý kiến với tôi, Trang Chủ trang nhà Sachhiem.net đã đưa ra nhận xét:

Bỏ qua tất cả những nhận xét về cá nhân ông, riêng cá nhân tôi nhận thấy rằng, nếu đạo Phật tin vào thuyết “nhân quả”, thì chính thầy Nhất Hạnh phải tự cảm thấy có trách nhiệm gián tiếp trong vấn đề 400 tu sinh này.
- Nếu thầy NH nhận thấy lời tuyên bố và khung cảnh tuyên bố của ông là xác đáng, đương nhiên thầy chấp nhận “đối đầu” với đối tác của ông trong chuyện này mặc kệ cho việc đẩy tu sinh của ông vào vòng nguy hiểm. Ông cũng phải chịu trách nhiệm, và tuyên bố sự thách thức đó.

- Việc đặt tên nước và quốc kỳ càng không liên quan gì đến sinh mệnh của dân tộc hay tôn giáo nào. Ai lại nỡ dùng sự an sinh của các đệ tử để thách thức chính quyền bằng nhận định chính trị đầy thành kiến của mình. Lẽ ra thầy NH nên xin lỗi với chính phủ và nhân dân Việt Nam về lời yêu cầu có tính cách phủ nhận đối với công cuộc giành độc lập của Việt Nam mà xét ra, ông không có dự phần vào công lao đó… Điều ông tuyên bố đã đi ngược với giá trị lịch sử của công cuộc cách mạng của dân Việt Nam đối với ngoại xâm. .

Riêng tôi, tôi cho là những đề nghị chính trị trên là những bước đi chính trị vụng về. Người Cộng Sản rất tự hào là đã đưa được đất nước ra khỏi vòng nô lệ của thực dân Pháp và đánh bại được sự can thiệp quân sự của đế quốc Mỹ. Từ ngày thực dân Pháp, với sự hỗ trợ rất đáng kể của Công giáo Việt Nam, lập được nền đô hộ ở Việt Nam, thì đã có biết bao nhiêu tổ chức, đảng phái hoạt động để giành lại độc lập cho Việt Nam nhưng không có tổ chức, đảng phái nào thành công. Và đảng Cộng sản đã lập được công đó. Nay Thiền sư Nhất Hạnh muốn đảng Cộng Sản đổi tên, phải chăng muốn xóa bỏ công trên của Cộng sản. Lá thư Làng Mai đưa ra vài tên đảng Cộng Sản đã đổi tên, thí dụ như đảng Cộng sản Ý. Nhưng hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam hoàn toàn khác biệt. Thử hỏi trên thế giới này, có đảng Cộng sản được thành lập để chống ngoại xâm như đảng Cộng sản Việt Nam và đã thành công trong việc đánh đuổi ngoại xâm? Vả chăng hai chữ Cộng sản ngày nay chỉ còn trên mặt văn tự, có còn gì là Cộng sản nữa đâu. Thứ nhì, bỏ đi cụm từ “Xã hội chủ nghĩa” thì phải chăng tên nước trở thành “Việt Nam [đệ tam] Cộng Hòa”? Tại sao chúng ta còn cứ câu nệ chấp nhất vào mấy cụm từ hữu danh vô thực?

C. Thêm những đề nghị khác của Thiền sư Nhất Hạnh

Ngoài ra Thiền sư Nhất Hạnh còn có bản đề nghị 10 điểm với Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết trong chuyến về thăm Việt Nam năm 2007. Theo một nguồn tin thì Nhà Nước sẽ cứu xét và đề nghị không công bố bản đề nghị này. Nhưng Lá thư Làng Mai số 31 (http://www.langmai.org/) đã đăng bản đề nghị này, trang 25, và theo một nguồn tin thì Làng Mai đã cho tán phát Lá Thư Làng Mai số 31 này trước khi TS Nhất Hạnh về dự lễ Vesak. Theo ý kiến riêng của tôi thì trong bản đề nghị có những điểm không thực tế và không thể thực hiện được trong bất cứ quốc gia nào.

Điểm thứ 4: Xin cho những người gốc Việt cư trú ở nước ngoài được về nước thăm viếng, làm việc, đầu tư, giảng dạy, hoằng Pháp mà không cần Visa.

Có thực tế không trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, với những tổ chức chống Cộng cho Chúa, chống Cộng cực đoan, chống Cộng theo gương Thánh Đa-vít, chống Cộng theo gương Chúa Thánh Thần v.v… Trên trang nhà Tin Paris đã có 6 danh sách hàng trăm các Tiến sĩ, Kỹ sư, Giáo sư, nhà kinh doanh v… v… đã về Việt Nam làm việc, đầu tư, giảng dạy và còn đóng góp trong nhiều địa hạt nữa mà có vấn đề gì đâu. Hơn nữa người gốc Việt cư trú ở nước ngoài nay mang quốc tịch của quốc gia nào, mang sổ thông hành của quốc gia nào, và quốc gia đó đã có thỏa hiệp với Việt Nam là miễn Visa cho dân chúng hai nước chưa?

Điểm thứ 7: Xin có một chính sách đặc biệt đối với Phật Giáo, bởi vì đạo Phật đã là nền móng dựng nước và giữ nước trong gần 2000 năm, và là yếu tố chính của nền văn hóa Việt Nam.

Đây là điều hiển nhiên đối với Phật Giáo Việt Nam và chắc Chính quyền cũng đã nhận ra như vậy. Nhưng không thể xin một cách công khai như vậy vì Nhà nước không thể thiên vị và có chính sách đặc biệt đối với bất cứ tôn giáo nào trong một xã hội đa tôn giáo. Nước Mỹ có thể nói là nước Ki Tô Giáo [God country, In God we trust v…v…] nhưng Hiến Pháp Mỹ không cho phép chính quyền thiên vị đối với bất cứ tôn giáo nào và còn thường xuyên kiểm soát những hoạt động của tôn giáo.

Điểm thứ 9: Xin cho Tăng Ni được phép hành đạo khắp nơi trên lãnh thổ quê hương không bị hạn chế bởi vấn đề hộ khẩu, có quyền dựng Chùa Viện bất cứ ở đâu không kể nơi đó có nền Chùa cũ hay không – các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Lào Cai, Thái Nguyên v…v…

Đây là một đề nghị vừa chí lý vừa phi lý. Chí lý là Nhà Nước không nên dùng hộ khẩu để hạn chế sự hành đạo của các Tăng Ni. Còn phi lý là quyền dựng Chùa Viện bất cứ ở đâu không thể thực hiện trong bất cứ quốc gia văn minh tiến bộ nào. Ở Mỹ, ngay một tư nhân muốn sửa sang nhà cửa, thay máy móc trong nhà, cũng phải xin phép chính quyền địa phương, đóng lệ phí, và đặt dưới quyền kiểm soát của địa phương từng giai đoạn thi công một. Chùa, nhà thờ không thể xây cất ở bất cứ đâu mà phải xây ở những chỗ thích hợp với kế hoạch về gia cư và đất đai của chính quyền. Giả thử Nhà Nước chấp thuận và công bố trước quốc dân điều này thì đối với các tôn giáo khác ở Việt Nam ra sao? Phật Giáo có đủ tiền bạc và nhân sự có nhiệt huyết để thi đua với Công Giáo và Tin Lành không, biết rằng nguồn tài chính của họ là vô tận. Chúng ta cũng nên biết đến một tài liệu trên Internet về vấn đề này ở Âu Châu ngày nay:

Những chính phủ Âu Châu bị qui tội một phần làm cho Ki Tô Giáo suy thoái, bị trách cứ là đã giới hạn những hoạt động tôn giáo và làm khó khăn sự bành trướng của những nhóm tín ngưỡng. Ví dụ như, trong nước Pháp dân chủ, một nhà thờ xin phép để xây cất thêm hay mua bất động sản có thể không bao giờ được cấp giấy phép.

(European governments have been partially blamed for the decline of Christianity, being accused of restricting religious activities and hindering the expansion of faith groups. For example, in the democratic country of France, a church requesting permit to expand its church building or buy property may never receive permission.)

Đọc Lá Thư Làng Mai số 31 chúng ta có thể thấy vài nét kiêu căng, thí dụ như: “Có những điểm trong bản đề nghị đã gây “sốc” làm cho Ngài Chủ Tịch nước có lúc đã phản ứng”, “Làng Mai đã không công bố bản đề nghị này trên báo chí, sợ làm như thế sẽ mất đi hiệu quả của thiện chí xây dựng” [Nhưng Làng Mai đã công bố trên Lá Thư Làng Mai những đề nghị có thể gọi là thiếu trí tuệ đó] Lá thư Làng Mai viết: “Thầy Làng Mai không bao giờ lên án, công kích, buộc tội, mà chỉ thực tập phép lắng nghe và ái ngữ để giúp người khác có cơ hội thay đổi nhận thức về họ” nhưng trong một đoạn khác thì lôi những chuyện cũ rích như “cải cách ruộng đất”, “Nhân văn giai phẩm” ra và viết: “Ý thức hệ Mác xít duy vật như một cơn sốt đã xâm nhập vào cơ thể dân tộc ta trong nhiều thập niên, và trong thời gian đó đã có biết bao tư duy và hành động tạo nên khổ đau, cũng vì thái độ cố chấp và cuồng tín vào một chủ thuyết được mệnh danh là khoa học.” . Đó không phải là lên án, công kích, buộc tội hay sao. Đó không phải là những lời lên án, công kích một chiều hay sao.

Nhưng viết như trên thì Làng Mai cho chúng ta thấy họ rất ít hiểu biết về những bối cảnh lịch sử của Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ và cũng chẳng hiểu gì mấy về chủ thuyết Mác-xít cả. Marx đã được thế giới tôn vinh và ngày nay, trong các trường đại học Âu Mỹ đều có dạy lý thuyết Marx. Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ đại của thế giới là như thế nào?

1. “Theo kết quả thăm dò ý kiến thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 thì, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??. [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers, nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.] Theo bảng kết quả thì David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7.

2. “Kết quả chọn vĩ nhân của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10 ( www.unserebesten.zdf.de). Lạ nhỉ, cả thế giới trí thức này mù và ngu cả hay sao mà không nhìn và đánh giá Marx như là Làng Mai?

Trong đoạn của John Ruwitch ở trên có nói đến một tài liệu của chính quyền địa phương. Để hiểu rõ ngọn ngành về vụ Tu Viện Bát Nhã chúng ta cũng nên đọc tài liệu đó. Nếu tôi không lầm thì đó là Văn thư số 789 của Ủy Ban Nhân Dân Lâm Đồng, nguyên văn như sau [Nguồn: http://phuongboi.org/index.php/]:

D. Tài liệu của chính quyền địa phương

Văn thư Số: 789 / UBND V/v giải quyết tình hình Tại chùa Bát Nhã xã Đambri

nguồn: http://www.phuongboi.org/index.php/cac-s-kin-ti-bat-nha

Ngoài ra, chúng ta cũng nên biết đến một văn kiện của Ban Tôn Giáo Chính Phủ ngày 29 tháng 10 năm 2008:

Có bao nhiêu phần đúng trong hai văn kiện trên? Tôi không ở vị thế có thể biết rõ. Cần phải có sự sáng tỏ vấn đề của Chính quyền cũng như của Làng Mai.

E. Đến Bi Kịch:

Đến đây tôi nghĩ chúng ta đã có thể thấy từ đâu mà xảy ra vụ Tu Viện Bát Nhã. Chúng ta biết, chính quyền đã chấp thuận cho TT Đức Nghi bảo lãnh những người nước ngoài về giảng Phật Pháp và tu ở Tu Viện Bát Nhã. Chúng ta cũng biết là Chính quyền và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã chấp thuận “Pháp môn Làng Mai” là Pháp môn tu tập cho những tăng thân Làng Mai và những ai muốn tu theo Pháp môn đó. Chính quyền Trung Ương cũng như địa phương cũng đã chấp thuận để cho Làng Mai phát triển cơ sở Tu Viện Làng Mai do sự vận động của TT Đức Nghi. Mọi sự có vẻ êm ả nhưng tại sao gió bão lại nổi lên.

Muốn giải đáp điều này, tôi thấy Làng Mai cần phải làm sáng tỏ vài điểm sau đây..

► – Mầm mống bất hòa ở Tu Viện Bát Nhã có phải là, như trên đã viết, vì sự mâu thuẫn về cách quản lý và quyền lực quản lý Tu Viện. TT Đức Nghi nhân danh là Viện chủ mà không có quyền hạn như Viện chủ ở Việt Nam, quyết định tất cả. Theo cách của Làng Mai, tập thể giáo thọ quyết định. Nhưng Làng Mai là khách và TT Đức Nghi là chủ.

► – Theo chính quyền thì các vị tu theo pháp môn làng Mai đã tổ chức khóa tu tại tu viện Bát Nhã mà không xin phép Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, số người tới tu cũng không đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật. Việc làm này là vi phạm thủ tục hành chính của Việt Nam, vi phạm giới luật, hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Những vụ việc này ra sao, cần phải giải thích rõ ràng. [Lá thư Làng Mai có viết là TS Nhất Hạnh và Tăng Thân Làng Mai đã đi nhiều nước, được tự do mở khóa tu mà không cần phải xin phép bất cứ cơ quan nào]

► – Những đề nghị chính trị và tôn giáo của Thiền Sư Nhất Hạnh có thích hợp trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước không?

► – Câu hỏi của Minh Tân: Nếu đã “hết duyên” ở Bát Nhã, các Tăng Ni trẻ tu theo pháp môn Làng Mai có nhất thiết cứ phải bám trụ tới cùng không?

Mặt khác, Chính quyền Trung Ương, Chính quyền Lâm Đồng, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ban Trị Sự THPG Lâm Đồng, và TT Đức Nghi cũng nên làm sáng tỏ vài câu hỏi sau đây:

► – Tại sao lại để xảy ra một sự cố tồi tệ như vậy, gây nên sự mất mát cho cả mọi phía: Chính quyền, Phật Giáo, Làng Mai, và cho cả dân tộc. Trách nhiệm chính là cá nhân hay tập thể nào?

► – Những hành động của TT Đức Nghi, Đồng Hạnh cùng các đồng sự đồng đệ để đối phó với các Tăng Ni ở Tu Viện Bát Nhã có xứng đáng là những hành động của những người con Phật không. Quý vị trên sẽ có những hành động cụ thể nào để sám hối trước Chính quyền [vì đã vô cương vô pháp làm giảm uy tín của Chính quyền trước thế giới], trước Giáo Hội Phât Giáo Việt Nam và quần chúng Phật tử [vì đã gây nên một bộ mặt xấu cho Phật Giáo]

Cá nhân tôi, chắc chắn không vui vẻ và ích lợi gì cho bản thân lúc viết về vụ việc Bát Nhã. Nhưng hy vọng qua bài nầy sẽ soi rọi một tia sáng nào đó cho công bằng và lẽ phải. Tôi thấy trong Lá Thư Làng Mai có hai câu sau đây:

NHỊN MỘT GIÂY GIÓ YÊN SÓNG LẶNG

LÙI MỘT BƯỚC BIỂN RỘNG TRỜI QUANG

Nhưng gió bão đã nổi lên chỉ vì không nhịn nổi và vì ai cũng chỉ muốn tiến lên chứ không chịu lùi. Cơn gió bão đã thổi qua, nay là lúc phải dọn sạch những tàn phá đã đổ lên đầu những Tăng Ni vô tội và vô can. Chúng tôi mong Chính Quyền cũng như Làng Mai có thể đi đến một giải pháp có thể giải quyết ổn thỏa các sự việc, đừng để vấn đề lây lan ngày càng lớn và tạo một hình ảnh xấu cho bộ mặt quốc gia đối với thế giới cùng làm phai nhạt hình ảnh, hào quang của một tổ chức tôn giáo mà đáng lẽ có thể phục vụ tốt hơn cho dân tộc Việt Nam nếu không bước vào con đường chính trị với những đề nghị thiếu tế nhị, thiếu khôn khéo và bất khả thi.

IV. Những đề nghị thực tiễn

Vài Đề Nghị Cá Nhân:

- Sự việc đã xảy ra như vậy, tôi nghĩ khó mà các Tăng Ni trẻ có thể trở lại tu ở Tu Viện Bát Nhã. Nhưng chính quyền có thể thu xếp ở một số Chùa hay Tu Viện nào đó để cho các Tăng Ni có quốc tịch Việt Nam tự do tu theo “Pháp môn Làng Mai”. Họ chỉ cần đăng ký sự có mặt của họ với chính quyền địa phương mà không bị hạn chế bởi chế độ hộ khẩu. Cần hạn chế số tu sinh nước ngoài, kể cả những người Việt mang quốc tịch nước ngoài, vì họ có thể tu ở Làng Mai hay Lộc Uyển hay ở bất cứ đâu họ muốn.

- Chính quyền cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cần phải có những biện pháp kỷ luật đối với TT Đức Nghi, ĐĐ Đồng Hạnh và các đệ tử, khiển trách chính quyền Lâm Đồng, cử một Tăng hay Ni đạo đức thay thế quản trị Tu Viện Bát Nhã và dễ dãi để cho những Tăng Ni trẻ nào muốn trở lại Bát Nhã tu tập được toại ý. Những Tăng Ni này tự do tu theo “Pháp môn Làng Mai” nhưng không thuộc quyền quản lý của Làng Mai.

Về phía Làng Mai thì tôi cũng có vài đề nghị:

Thứ nhất, Sư Cô Chân Không nên nói bớt đi. Nếu có thể thì diện bích tịnh khẩu trong 1 năm, vì nói ít thì sai ít, nói nhiều sai nhiều, càng nói càng sai.

Thứ nhì, xin Thiền Sư Nhất Hạnh nên rút kinh nghiệm từ vụ này để có thể đóng góp hữu hiệu hơn cho Phật Giáo Việt Nam về sau. Giảng dạy Phật Pháp là sở trường của Thiền sư, chính trị là sở đoản, Không nên để cho sở đoản làm giảm hào quang của sở trường.

Sau cùng tôi có một điều thắc mắc đã từ lâu. Những phương pháp tu tập của Làng Mai như “Chánh Niệm”, “Tỉnh thức”, “Hiểu và Thương” , “Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra mỉm miệng cười” v…v… rất cần thiết cho Việt Nam ngày nay, nhưng tôi không hiểu rồi Làng Mai có cho nhập cảng một số hoạt động tôn giáo của Làng Mai và Lộc Uyển ở ngoại quốc như “Tổ chức Lễ Giáng Sinh trong Chùa, hát Thánh ca” v… v… và giảng về Ki Tô Giáo, về Thượng đế và Chúa Giê-su như TS đã viết trong những cuốn như “Living Buddha, Living Christ”, và “Going Home: Jesus and Buddha as Brothers” . Đây chính là thắc mắc mà tôi cho rằng không ít thì nhiều cũng có ảnh hưởng đến quan niệm của đại khối Phật Giáo bên nhà, không nằm trong hệ thống Làng Mai, đối với Thiền sư Nhất Hạnh và Làng Mai./.